vanban.org

Bản án 78/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày giạm giữ, tạm giam (24/02/2022). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MS
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:78/2022/HS-ST
Ngày: 06 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS- TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Tổ

Ông Hà Văn Sơ

- Thư ký phiên toà: Bà Lường Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MS tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2022/HSST ngày 09 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 14 tháng 9 năm 1995 tại: Huyện MS, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tiểu khu A, xã CN, huyện MS, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Nguyễn Văn L sinh năm 1971; Con bà: Ngô Thị T sinh năm 1971; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Huyền T sinh năm 2000; Có 02 người con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2022. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 24/02/2022 tại tiểu khu A, xã CN, huyện MS, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an Công an huyện MS phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn D, sinh năm 1995, trú tại tiểu khu A, xã CN, huyện MS, tỉnh Sơn La khi đang tàng trữ trái phép 04 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp Methamphetamine. D khai nhận 04 viên nén màu hồng là của D, tàng trữ mục đích để bán kiếm lời. Ngoài ra, thu giữ 370.000VNĐ trong ví da màu đen trong túi áo khoác bên trái đang mặc của D.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện MS đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với người, chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Văn D, quá trình khám xét thu giữ được:

- 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 16 viên nén màu hồng, 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 09 viên nén màu hồng bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY; 01 mảnh giấy bạc (trong túi quần phía trước bên phải bên phải treo trong phòng để đồ của gia đình Nguyễn Văn D;

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo và 01 chiếc quần bằng vải bò màu xanh thu giữ trong phòng ngủ của D.

Tại Cơ quan điều tra D khai nhận 29 viên hồng phiến bị thu giữ D mua của một người đàn ông (không biết tên, tuổi) tại quán điện tử của Trần Thị H (sinh năm 1971, trú tại tiểu khu A, xã CN, MS, Sơn La) với giá 1.800.00VNĐ với mục đích bán kiếm lời.

Ngày 25/02/2022 Công an huyện MS phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn D. Kết quả:

Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn D: 04 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,39 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M1 trưng cầu giám định.

Vật chứng thu giữ khi khám xét khấn cấp chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Văn D: 16 viên nén màu hồng có khối lượng là 1,52 gam, lấy 0,47 gam làm mẫu ký hiệu M2 trưng cầu giám định; 09 viên nén màu hồng có khối lượng 0,87 gam lấy 0,49 gam làm mẫu ký hiệu M3 trưng cầu giám định.

Kết luận giám định số 409/KLMT ngày 25/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3 là ma tuý; Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là: M1=0,39 gam; M2= 0,47 gam; M3=0,49 gam

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,78 gam, loại Methamphetamine ”.

Bản cáo trạng số 54/CT-VKSMS ngày 09/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện MS đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo và đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 30 đến 36 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng, mảnh giấy, mảnh nilon, túi nilon gói ma túy ban đầu, mẫu T2= 1,05 gam Methamphetamine, T3= 0,38 gam Methamphetamine được niêm phong trong phong bì do Công an huyện MS phát hành; Vỏ phong bì cũ gửi giám định được niêm phong trong một phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành và 01 chiếc quần dài bằng vải bò màu xanh.

Trả lại cho Nguyễn Văn D 370.000VNĐ và 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh kèm 01 sim, đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện MS, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện MS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D thì thấy rằng: Ngày 24/02/2022, tại tiểu khu A, xã CN, huyện MS, Nguyễn Văn D đang tàng trữ trái phép 04 viên Hồng phiến (0,39 gam) với mục đích bán kiếm lời khi có người hỏi mua thì bị bắt quả tang và qua khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn D thu giữ 25 viên Hồng phiến (2,39 gam) cùng với mục đích D tàng trữ để bán kiếm lời (D không nghiện ma túy).

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 24/02/2022; Biên bản khám xét ngày 24/02/2022 đối với nhà ở, đồ vật, tài liệu của Nguyễn Văn D; Biên bản niêm phong vật chứng và biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, trích mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng lập ngày 25/02/2022/2020; Kết luận số 409/KLMT ngày 25/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3 là ma tuý; Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là: M1=0,39 gam; M2= 0,47 gam; M3=0,49 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,78 gam, loại Methamphetamine ” ... và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thuẫn.

Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn D đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy với việc tàng trữ 2,78 gam Methamphetamine nhằm mục đích bán kiếm lời (D không nghiện ma túy). Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.

Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, dân sự. Biết hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền tiêu sài cho bản thân nên bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo không có tình tiết năng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Quá trình điều tra, bị cáo tự giác khai nhận số ma túy tàng trữ là của bị cáo sử dụng vào mục đích bán kiếm lời, tự giác giao nộp số ma túy cất giấu tại nhà khi Cơ quan điều tra khám xét chỗ ở của bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) sẽ được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng, mảnh giấy, mảnh nilon, túi nilon gói ma túy ban đầu, mẫu T2= 1,05 gam Methamphetamine, T3= 0,38 gam Methamphetamine được niêm phong trong phong bì do Công an huyện MS phát hành và vỏ phong bì cũ gửi giám định được niêm phong trong một phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành là vật không có giá trị sử dụng và Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 370.000VNĐ thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn D, quá trình điều tra xác định là tài sản của D, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho Nguyễn Văn D.

Đối với 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh kèm 01 sim, đã qua sử dụng thu giữ khi khám xét nhà ở của Nguyễn Văn D là tài sản của D, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho Nguyễn Văn D.

Đối với 01 chiếc quần bò màu xanh (đã qua sử dụng) D cất giấu ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Văn D, D khai mua của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại quán điện tử thuộc tiểu khu A, xã CN, huyện MS (khi mua bán không có ai biết chứng kiến). Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MS không có cơ sở để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ số ma túy bị thu giữ trong vụ án là 2,78 gam Methamphetamine.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày giạm giữ, tạm giam (24/02/2022).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng, mảnh giấy, mảnh nilon, túi nilon gói ma túy ban đầu, mẫu T2= 1,05 gam Methamphetamine, T3= 0,38 gam Methamphetamine được niêm phong trong phong bì do Công an huyện MS phát hành; Vỏ phong bì cũ gửi giám định được niêm phong trong một phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành và 01 chiếc quần dài bằng vải bò màu xanh.

Trả lại cho Nguyễn Văn D 370.000VNĐ và 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh kèm 01 sim, đã qua sử dụng.

3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ