- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hà C chứa mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 49/2022/HS-ST ngày 26/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Bình về phần hình phạt đối với bị cáo, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 328 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2022/HS-PT Ngày 28/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Toàn Nghĩa.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình, bà Lương Hải Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/HSPT ngày 07/9/2022 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hà C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 49/2022/HS-ST ngày 26/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Bình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2022/QĐXXPT-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với
* Bị cáo: Nguyễn Hà C, sinh năm 1997, nơi cư trú: Thôn G, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, trình độ học vấn 12/12, nghề nghiệp: Kinh doanh tẩm quất, massege, dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông (không xác định) và bà Nguyễn Thị T, có vợ là Nguyễn Thị L, đã ly hôn và có 1 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 23/9/2021, đến ngày 02/10/2021 chuyển tạm giam, bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (có mặt tại phiên tòa).
Trong vụ án này còn có bị cáo Lò Thị N và 8 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, do những người này không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hà C là chủ quán tẩm quất, masassege B có địa chỉ tại thôn T1, xã Đông Sơn, huyện Đ, tỉnh Thái Bình có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Qua bạn bè, C đã quen và yêu Lò Thị N. Cả hai đều đã ly hôn và sống với nhau như vợ chồng. C và N đã tuyển được 6 nhân viên gồm: Lường Thị N1, sinh ngày 17/5/2005; Cầm Thị Diệu L1, sinh ngày 27/7/2006, Quàng Thị T2, sinh năm 1988, Lường Thị T3, sinh ngày 18/12/2006; Lường Thị H, sinh năm 1993; Lò Thị T4, sinh ngày 05/02/2006. Các nhân viên tẩm quất, massage cho khách và ăn ở sinh hoạt tại quán. Lợi dụng đăng ký ngành nghề trên, C và N thực hiện hành vi môi giới mại dâm khi khách có nhu cầu mua dâm và hưởng lợi từ việc bán dâm của nhân viên.
Thời gian đầu, C quản lý toàn bộ hoạt động của quán. Đến tháng 8 năm 2021, C giao quyền cho N quản lý dịch vụ tẩm quất, điều hành nhân viên đi bán dâm và thu tiền của khách. Để tiện cho quản lý, C đã lập tài khoản Zalo có tên là B do C làm trưởng nhóm, gồm 7 thành viên: Nguyễn Hà C; N1 (Hà Bơ), T4 (T4 vipp), L1 (Ngọc Hânn), T2 (Thảo Mai), T3 (Ngọc T3), N (Mai An). Trong nhóm, T2 không biết chữ nên không chát cùng nhóm. Nhóm Hội Nát, tài khoản Zalo là Mai An do N lập và là trưởng nhóm gồm: N, T3, N1, L1. Quá trình làm việc, C và các nhân viên thỏa thuận, việc phục vụ tẩm quất, massage cho khách với giá 100.000 đồng/1 người/1 ca, thời gian từ 30-40 phút. C chia tiền thu được theo tỷ lệ 50/50. Sau khi tẩm quất xong, nếu khách có nhu cầu mua dâm thì sẽ đặt vấn đề trực tiếp với nhân viên. Nếu nhân viên đồng ý thì khách sẽ gặp trực tiếp trao đổi với C hoặc N và thanh toán tiền mua dâm cho C hoặc N (nếu C không có mặt ở quán). N nhận tiền thì đưa lại cho C để chi trả tiền công nhân viên và các chi phí sinh hoạt khác. Giá bán dâm từ 300.000 đồng đến 1.000.000 đồng/1 lượt, tùy theo từng nhân viên; trong trường hợp khách mua dâm đi qua đêm thì giá từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Tiền thu được chia theo tỷ lệ C và N hưởng 40%, nhân viên 60%. Riêng với T2 và H được trực tiếp thu tiền, giá cụ thể là 300.000 đồng/1 lượt rồi đưa lại cho C và N 100.000 đồng/1 lượt, C quản lý tiền và chia tiền cho nhân viên không ghi sổ sách, mà hằng ngày N sẽ nhắn tin trên nhóm Hội Nát và nhóm B để các nhân viên biết, nếu sai thì báo lại để N kịp thời điều chỉnh.
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 22/9/2021, anh Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Văn T5 đến quán B tẩm quất. Chị T4 là người trực tiếp tẩm quất cho anh T5. Chị T3 tẩm quất cho anh H. Sau đó anh T5 đặt vấn đề mua dâm với T4, anh H cũng đặt vấn đề mua dâm với T3. Cả hai đồng ý nhưng đều bảo hai người hỏi C, nếu C đồng ý thì mới đi. Sau đó, anh T5 bảo C “Cho hai em vừa đấm lưng đi tàu nhanh phát” (quan hệ tình dục 1 lần). C gật đầu và nói T3 còn din, giá 15.000.000 đồng, nên anh H bảo cho nhân viên khác. C gọi chị N1 ra cho anh H xem mặt, cả hai đồng ý việc mua bán dâm. Hai bên thỏa thuận giá 700.000 đồng quan hệ tình dục 1 lần, khách trả tiền phòng. Anh T5 đưa cho C 1.600.000 đồng, trong đó có 200.000 đồng là tiền công tẩm quất. Sau đó, anh T5 và anh H bảo cho khách đến nhà nghỉ H1 ở xã Đông Sơn, rồi đi trước. C cung cấp địa chỉ cho chị T4 và chị N1, hai người đi đến nhà nghỉ sau bằng xe đạp điện của C. Tới nơi, anh H và chị N1 lên phòng 605, anh T5 cùng chị T4 lên phòng 606. Vào phòng, anh T5 và anh H hỏi tuổi của T4 và N1, T4 nói thật sinh năm 2006 (dưới 16 tuổi), N1 nói thật sinh năm 2005. Do sợ vi phạm pháp luật, cả anh H và anh T5 từ bỏ ý định thực hiện hành vi quan hệ tình dục với Trang và N1. Ngay sau đó khoảng 00 giờ 15 phút ngày 23/9/2021, Tổ công tác của Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã Đông Sơn kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ H1 phát hiện tại phòng 605 và 606 có 4 người trên không mang theo giấy tờ tùy thân, đã yêu cầu khai báo sự việc và thu giữ 1 bao cao su còn nguyên vẹn, chưa qua sử dụng, nhãn hiệu Nike tại phòng 605, thu giữ 1 bao cao su còn nguyên vẹn, chưa qua sử dụng, nhãn hiệu Nike tại phòng 606. Kiểm tra, thu giữ của N1 1 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO AK1, thu giữ của T4 1 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6
Quá trình kiểm tra tài khoản Zalo Hà Bơ và T4 Vipp trên điện thoại di động của N1 và T4 cùng lời khai của các đối tượng đã xác định ngoài lần môi giới cho N1 và T4 đi bán dâm nêu trên, trong khoảng thời gian từ ngày 14/9/2021 đến ngày 22/9/2021 N và C đã 33 lượt môi giới cho nhân viên đi bán dâm gồm:
+ Ngày 14/9/2021, N1 bán dâm 1 lần, thu 700.000 đồng,
+ Ngày 15/9/2021, T4 bán dâm 1 lần, thu 600.000 đồng,
+ Ngày 16/9/2021, L1 (dưới 16 tuổi) bán dâm 2 lần, thu 1.150.000đồng, N1 bán dâm 1 lần, thu của khách 2.000.000 đồng.
+ Ngày 17/9/2021, L1 bán dâm 3 lần, thu 2.400.000đồng, N1 bán dâm 2 lần, thu 1.500.000 đồng.
+ Ngày 18/9/2021, L1 bán dâm 1 lần, thu 700.000 đồng,
+ Ngày 19/9/2021, T4 bán dâm 1 lần, thu 700.000 đồng, N1 bán dâm 3 lần, thu 3.500.000 đồng
+ Ngày 20/9/2021, L1 bán dâm 2 lần, thu 1.600.000 đồng, N1 bán dâm 1 lần, thu 800.000 đồng.
+ Ngày 21/9/2021, L1 bán dâm 1 lần, thu 800.000 đồng
+ Từ ngày 17/9/2021 đến 22/9/2021, T2 bán dâm 4 lần, H bán dâm 10 lần.
Tổng số tiền C và N thu lợi bất chính là 9.950.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2022/HS-ST ngày 26/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
1. Tuyên bố : Các bị cáo Nguyễn Hà C và Lò Thị N phạm tội “Môi giới mại dâm”.
- Áp dụng khoản 3, 4 Điều 328; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hà C 10 năm 6 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/9/2021.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 3, 4 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Thị N 9 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/9/2021.
Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí và quyề n khá ng cá o.
Ngày 03/8/2022 bị cáo C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tò a phúc thẩm , bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm. Bị cáo cho rằng tại cơ quan điều tra bị cáo khai nhận hành vi môi giới mại dâm là do bị ép cung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội. Căn cứ vào lời khai của bị cáo Lò Thị N, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng với vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định bị cáo Nguyễn Hà C phạm tội Môi giới mại dâm theo điểm a khoản 3 điều 328 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Bị cáo là chủ quán, trực tiếp tuyển nhân viên, thống nhất mức tiền thu đối với từng trường hợp bán dâm tùy theo yêu cầu của khách, thống nhất tỷ lệ phân chia tiền thu được, C là người rủ rê N cùng thực hiện hành vi phạm tội, đã môi giới cho nhân viên của quán bán dâm 34 lần, trong đó môi giới cho 2 nhân viên dưới 16 tuổi và 1 nhân viên dưới 17 tuổi bán dâm nhiều lần. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu tới thể chất và tinh thần của 2 trẻ em và người chưa thành niên, tạo nguy cơ lây truyền nhiều căn bệnh nguy hiểm, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong xã hội, thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật, làm cho người dân bức xúc; Vì vậy án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 10 năm 6 tháng tù là thỏa đáng. Bị cáo cho rằng trong giai đoạn điều tra, bị cáo bị ép cung nên phải khai nhận. Song bị cáo không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó cần giữ nguyên mức hình phạt của án sơ thẩm đối với bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí phúc thẩm:
Kháng cáo không đượ c chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1]. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 49/2022/HS-ST ngày 26/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Bình về phần hình phạt đối với bị cáo, cụ thể như sau:
Áp dụng khoản 3, 4 Điều 328; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hà C 10 (mười) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm” thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/9/2021.
Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
[2] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 28/9/2022.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Thái Bình. - Bị cáo. - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lưu Toàn Nghĩa |