- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Châu Văn B"
- Tòa quyết gì? Không công nhận bà Nguyễn Thị H và ông Châu Văn B là vợ chồng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2022/HNGĐ-ST Ngày 17-8-2022 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ca Kiều Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 253/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2022 về việc ly hôn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2022/QĐ-ST ngày 01 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969
Địa chỉ: Ấp 10A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
Bị đơn: Ông Châu Văn B, sinh năm 1971
Địa chỉ: Ấp 10A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/6/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Khoảng năm 1990, bà Nguyễn Thị H và ông Châu Văn B tự nguyện chung sống vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống vợ cHthường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Nay xét thấy không thể tiếp tục chung sống nên bà H xin ly hôn với ông B. Bà H và ông B chung sống có 02 con chung là Châu Văn Ph, sinh ngày 01/01/1991 và Châu Văn Nh, sinh ngày 01/01/1995, hiện nay các con đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên bà H không yêu cầu giải quyết. Bà H xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Châu Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không đến Tòa án làm việc, không có lời khai trình bày ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này thấy rằng những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 14, Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Không công nhận bà Nguyễn Thị Hvà ông Châu Văn B là vợ chồng. Về con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt ra giải quyết, về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn ông Châu Văn B, nguyên đơn và bị đơn đều đang cư trú tại Ấp 10A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã G theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Châu Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông B theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Khoảng năm 1990, bà Nguyễn Thị H và ông Châu Văn B tự nguyện chung sống vợ chồng, tại thời điểm chung sống với nhau cho đến nay thì bà H và ông B có điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở không công nhận bà H và ông B là vợ chồng theo quy tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Hvà ông B chung sống có 02 con chung là Châu Văn Ph, sinh ngày 01/01/1991 và Châu Văn Nh, sinh ngày 01/01/1995, các con hiện nay đều trên 18 tuổi, đủ tuổi trưởng thành, thể chất và tin thần phát triển bình thường, có khả năng tự nuôi sống bản thân và bà Hcó cung cấp giấy khai sinh của các con, Hội đồng xét xử xét thấy các con chung hiện nay đã đủ tuổi trưỡng thành, bà H không yêu cầu giải quyết về con chung và Tòa án cũng không nhận được ý kiến, yêu cầu của ông B về việc giải quyết đối với con chung, nên không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, bà H không yêu cầu giải quyết và Tòa án cũng không nhận được ý kiến, yêu cầu của ông B về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về nợ chung bà H xác định không có nợ chung và Tòa án cũng không nhận được ý kiến, yêu cầu của ông B về nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp nên được Hội đồng xét xử được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không công nhận bà Nguyễn Thị H và ông Châu Văn B là vợ chồng.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Châu Văn B chung sống có 02 con chung là Châu Văn Phong, sinh ngày 01/01/1991 và Châu Văn Nhàn, sinh ngày 01/01/1995, các con hiện nay đều đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết và ông Châu Văn B cũng không có ý kiến yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H xác định không có nợ chung và ông Châu Văn B cũng không có ý kiến yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0004132 ngày 29/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã G, nay được chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND Tx. G; - Chi cục THADS Tx. G; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; Tòa. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ca Kiều Nguyệt |