- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngân Phạm Mỹ L "Ly hôn, nuôi con chung" Lê Cát P"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Ngân Phạm Mỹ L và Ông Lê Cát P.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2022/HNGĐ-ST Ngày 29-9-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Hải.
2. Bà Trịnh Thị Lệ Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh L tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ngân Phạm Mỹ L; sinh năm 1994.
HKTT: số 90K đường S, Phường D, thành phố T, tỉnh L.
Chỗ ở hiện nay: số 78 đường Đ, Phường B, thành phố T, tỉnh L.
Bị đơn: Ông Lê Cát P; sinh năm 1993.
Địa chỉ: số 90K đường S, Phường D, thành phố T, tỉnh L.
(Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 13 tháng 6 năm 2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Ngân Phạm Mỹ L trình bày:
Bà và Ông Lê Cát P tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố T, tỉnh L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2017 ngày 30 tháng 3 năm 2017. Trong quá trình vợ chồng chung sống khoảng 05 năm, ông P đã nhiều lần đánh đập bà và con. Cuộc sống xảy ra rất nhiều mâu thuẫn, cả hai bên cha mẹ của bà và ông P đã rất nhiều lần can thiệp để hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Nay bà thấy tình cảm không còn nên yêu cầu xin ly hôn với ông P để bà được ổn định về tinh thần và cuộc sống.
Về con chung: có 01 con chung tên Lê Gia P, sinh ngày 17/12/2018. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên, không yêu cầu Ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: bà xác định bà và ông P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Ngân Phạm Mỹ L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bà xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Lê Cát P đã được Tòa án thực hiện việc niêm yết, tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông P không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải do Tòa án tổ chức, không có văn bản thể hiện ý kiến của ông đối với yêu cầu ly hôn, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con của bà L. Phiên tòa hôm nay, ông P cũng vắng mặt dù đã được tống đạt giấy báo hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Về ý kiến của Viện kiểm sát:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên tòa xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lê Cát P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến tham gia phiên tòa. Bà Ngân Phạm Mỹ L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã xét xử vắng mặt đối với bà L và ông P là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa Bà Ngân Phạm Mỹ L và ông Lê Cát P là quan hệ hôn nhân hợp pháp, do bà L và ông P có mâu thuẫn không thể hàn gắn được, bà L có yêu cầu ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu Ông P cấp dưỡng nuôi con. Theo kết quả xác minh của công an Phường 4, thành phố T, tỉnh L thì hiện Ông P vẫn còn đang sinh sống tại địa chỉ thường trú. Như vậy cho thấy ông P vẫn biết việc ly hôn với bà L nhưng không có thiện chí hòa giải, hàn gắn cũng như không có ý định về chung sống với bà L. Vì vậy, xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà L là có cơ sở.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L, giao con chung chưa thành niên Lê Gia P, sinh ngày 17/12/2018 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không có yêu cầu. Bà L phải chịu án phí theo qui định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Ngân Phạm Mỹ L nộp đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Lê Cát P có địa chỉ cư trú ở thành phố T, tỉnh L nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập ông P đến các phiên tòa sơ thẩm nhưng ông P không chấp hành nên Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông P là đúng theo quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử đã xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngân Phạm Mỹ L và ông Lê Cát P tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường C, thành phố T, tỉnh L nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tòa án cũng đã có xác minh về quan hệ tranh chấp dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng của bà L và ông P tại UBND Phường D, thành phố T, tỉnh L nơi bà L và ông P sinh sống sau khi kết hôn theo quy định tại Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng địa phương không nắm rõ nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Ngân Phạm Mỹ L và ông Lê Cát P. Bà L xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do ông P thường xuyên đánh đập bà và con làm cho bà vô cùng áp lực trong cuộc sống. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng giữa bà L và ông P không có tiếng nói chung, không có sự thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Ông P được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, được tống đạt hợp lệ, các văn bản tố tụng của Tòa án cho thấy Ông P đã biết được việc bà L yêu cầu ly hôn với ông nhưng ông không có văn bản thể hiện ý kiến là muốn được đoàn tụ hoặc đưa ra những biện pháp cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, chứng tỏ rằng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà L và ông P đã có những mâu thuẫn không giải quyết được. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân của bà L và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đồng thời, bản thân bà L xác định đã không còn tình cảm với ông P nên yêu cầu được chấm dứt hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà L là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: bà L và ông P có 01 con chung tên Lê Gia P, sinh ngày 17/12/2018. Bà L có yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung khi ly hôn. Xét thấy, con chung đang sống chung với bà L, trong quá trình giải quyết vụ án ông P không có ý kiến gì về nguyện vọng được nuôi con chung. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho con chung chưa thành niên, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không có yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ.
Về án phí: Bà L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 300.000đ. Ông P phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84, Điều 110, Điều 116; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Ngân Phạm Mỹ L và Ông Lê Cát P.
Về nuôi con chung:
Giao 01 con chung tên Lê Gia P, sinh ngày 17/12/2018 cho bà Ngân Phạm Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Lê Cát P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Ngân Phạm Mỹ L không có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con được quyền yêu cầu hạn chế quyền thăm nom nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom làm ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con chung, các bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí: Bà Ngân Phạm Mỹ L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà L đã nộp theo biên lai thu số 0001738 ngày 14/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L; - VKSND TP. T; - Chi cục THA TP. T; - UBND xã (phường) nơi ĐKKH; - Các đương sự - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Tố Loan |