vanban.org

Bản án 78/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Thị Anh Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Thị Anh Th 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án. Tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 25/2021/HSST-LCĐKNCT ngày 04 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, kể từ khi tuyên án đến khi Phan Thị Anh Th … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị Anh Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Thị Anh Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————
Bản án số: 78/2021/HS-ST
Ngày 25-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2021 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Phan Thị Anh Th, sinh năm 1996 tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: Ấp T Th, xã L H, huyện M T, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn S, sinh năm 1974 và bà Đặng Thạch Y, sinh năm 1975; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 2004; bị cáo có chồng tên Lê Minh Ngh, sinh năm 1997; có 02 con ruột, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại; có mặt.

*Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến:

1. Anh Hoàng Tuấn C; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Ngô Kỳ Ch; vắng mặt.

3. Anh Đinh Văn Đ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Phan Thị Anh Th là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 02/5/2020, trong lúc đang nhà một người bạn ở Quận MH, Thành phố Hồ Chí Minh do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Th liên hệ với một người thanh niên tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua 200.000 đồng ma túy. Sau khi mua được ma túy, Th đón xe (Grab Bike) về khu vực phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương để sử dụng ma túy. Do không có tiền để trả cho xe Grab Bike nên Th đến nhà nghỉ “M Th Th” tại phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương để gặp người bạn Đinh Văn Đ để mượn tiền trả tiền xe. Tuy nhiên, Đ không có ở nhà nghỉ “M Th Th” mà đang ở phòng trọ BX dãy trọ số B đường Ng Tr Ph, khu phố B Đ 4, phường A B, thành phố D A, tỉnh Binh Dương nên Th đến phòng trọ BX gặp Đ đển mượn tiền trả tiền xe. Sau đó, Th đến phòng trọ BX thì gặp được Đinh Văn Đ, Nguyễn Ngô Kỳ Ch và Hoàng Văn C đang ngồi nói chuyện. Đến 17 giờ cùng ngày thì lực lượng Công an phường A B kết hợp Đội Cảnh sát Ma túy – Kinh tế Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ BX phát hiện Phan Thị Anh Th, Đinh Văn Đ, Nguyễn Ngô Kỳ Ch và Hoàng Văn C có dấu hiệu sử dụng ma túy nên yêu cầu giao nộp ma túy, lúc này Th lấy 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho Công an, Th khai nhận là ma túy nên Công an lập biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi nilon kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng.

Căn cứ Kết luận giám định số: 268/MT-PC09 ngày 05/05/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1834 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì các Kết luận giám định số: 268/MT-PC09 ngày 05/05/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

Đối với người đàn ông tên C bán ma túy cho Th, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D A tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Đinh Văn Đ, Nguyễn Ngô Kỳ Ch và Hoàng Văn C không biết Phan Thị Anh Th tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đề cập xử lý, tuy nhiên Đ, Ch và C là người sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã ra Quyết định xử phạt hành chính mỗi người với số tiền 750.000 đồng theo quy định tại khoản 01 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, thông báo về địa phương để quản lý, giáo dục.

Tại cáo trạng số 86/CT – VKS ngày 02 tháng 3 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phan Thị Anh Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Phan Thị Anh Th mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) bì thư niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng sau giám định 0,661 gam, loại Methamphetamine là vật cấm lưu thông nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 17 giờ ngày 02/5/2020 Công an phường A B kết hợp Đội Cảnh sát Ma túy – Kinh tế Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương kiểm tra hành chính phòng trọ BX dãy trọ số B đường Ng Tr Ph, khu phố B Đ 4, phường A B, thành phố D A, tỉnh Binh Dương, lúc này Phan Thị Anh Th chủ động lấy 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy giao nộp cho Công an.

Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Phan Thị Anh Th tàng trữ ma túy có khối lượng 0,1834 gam, loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 86/CT-VKS ngày 02 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Phan Thị Anh Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi phạm tội bị cáo là người đang có thai, đồng thời bị cáo đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi của mình nên được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung. Đồng thời để đảm bảo cho việc thi hành án nên cần áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 25/2021/HSST-LCĐKNCT ngày 04 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Phan Thị Anh Th.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Xét 01 (một) bì thư niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng sau giám định 0,661 gam, loại Methamphetamine là vật cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy

Đối với người đàn ông tên C bán ma túy cho Th, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D A tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau và đối với Đinh Văn Đ, Nguyễn Ngô Kỳ Ch và Hoàng Văn C không biết Phan Thị Anh Th tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đề cập xử lý, tuy nhiên Đ, Ch và C là người sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã ra Quyết định xử phạt hành chính mỗi người với số tiền 750.000 đồng theo quy định tại khoản 01 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, thông báo về địa phương để quản lý, giáo dục là đúng theo quy định cảu pháp luật.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Thị Anh Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phan Thị Anh Th 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

Tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 25/2021/HSST-LCĐKNCT ngày 04 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, kể từ khi tuyên án đến khi Phan Thị Anh Th đi chấp hành án phạt tù.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu sung tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng sau giám định 0,1661 gam, loại Methamphetamine.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/3/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Phan Thị Anh Th phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ