vanban.org

Bản án 78/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 04/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma

Xử phạt: Nguyễn Thành L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 16/3/2020. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 277/KLGĐ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2020/HSST
Ngày: 04-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Huy Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Xuyến và ông Thái Quang Định.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thành L, tên gọi khác: không có; sinh ngày 06/12/1970, tại Uông Bí, Quảng Ninh. Nơi cư trú: Tổ 1, khu 9, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T và bà Phạm Thị L; vợ: Ngô Thị X, sinh năm 1977 (đã ly hôn); con: có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2002; tiền án: Ngày 28/02/2019 TAND thành phố Uông Bí xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 17/01/2020 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/3/2020, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, có mặt tại phiên tòa.

*Người chứng kiến: 1. Ông Vũ Đình G, sinh năm: 1965. Địa chỉ: Tổ 9, khu 1, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

2. Ông Phạm Văn Đ, sinh năm: 1955; địa chỉ: Tổ 9, khu 1, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút, ngày 16/3/2020, tổ công tác Công an phường Y, thành phố U, trong khi làm nhiệm vụ tại tổ 12, khu 1, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thành L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Vật chứng thu giữ tại túi quần phía trước, bên phải L đang mặc 01 túi nilon màu trắng, kích thước (4 x 5)cm, bên trong có 01 túi nilon kích thước (3,5x5)cm chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra Công an còn thu giữ của L 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ - đen biển kiểm soát 16P8- 13.. đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh gắn sim số 0364.728.414 và 540.000 đồng tiền mặt.

Tại bản kết luận giám định số 277/KLGĐ ngày 19/3/2020, của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ghi vật chứng thu của Nguyễn Thành L gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,269 gam.

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa Nguyễn Thành L khai nhận: Khoảng 17 giờ 10 phút, ngày 14/3/2020, L đang đi chơi ở thành phố Hải Phòng thì nảy sinh nhu cầu sử dụng ma túy, nên đến khu vực đường sắt (L không biết địa chỉ cụ thể) tìm mua. L đi bộ dọc theo đường tàu khoảng 20m thì gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi “Có đồ bán không”. Người đàn ông này hiểu ý nói “Có, lấy cái gì”, L nói “Đá, lấy ba trăm” rồi đưa 300.000 đồng cho người đàn ông, người này nhận tiền rồi đi khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho L 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, L cầm, xác nhận là ma túy cần mua, nên cất vào túi quần đang mặc. Sau đó L quay về thành phố Uông Bí lấy một ít ma túy ra sử dụng. Khoảng 14 giờ ngày 16/3/2020 L mang theo số ma túy còn lại, điều khiển xe mô tô Honda Wave BKS 14P8-13.. đến nhà một người bạn có tên H ở khu 1, phường Y mượn “nỏ” để sử dụng số ma túy còn lại, nhưng H không có nhà, nên L đi về, đi được khoảng 30 m thì bị Công bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại Cáo trạng số: 70/CT- VKSUB ngày 16/6/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 16/3/2020.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên đề nghị HĐXX không áp dụng.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 277/KLGĐ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, còn nguyên vẹn; trả lại cho bị cáo 540.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, với lời khai của những người chứng kiến, với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Y lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 16/3/2020, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 40 phút, ngày 16/3/2020, tại tổ 12, khu 1, phường Y, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thành L là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự có hành vi tàng trữ trái phép 0,269 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về hình phạt:

Hình phạt chính:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có tiền án, đã bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, nên cần phải xử lý nghiêm.

* Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm” nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

*Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo không có tài sản riêng, mua ma túy để sử dụng không nhằm mục đích bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy Methamphetamine, thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm tàng trữ, nên tịch thu tiêu hủy;

Đối với chiếc xe moto nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu biển số 16P8-13.., quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã tách ra để xử lý sau nên HĐXX không xem xét.

Đối với chiếc điện thoại Masstel màu xanh cùng sim số 0364.728.414 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình bị cáo nên HĐXX không xem xét.

Đối với số tiền 540.000 đồng thu giữ của bị cáo là tiền của bị cáo không liên quan đến tội phạm, nên trả lại cho bị cáo.

Những tình tiết khác trong vụ án: Đối với người đàn ông bán ma túy cho L, không có lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma

tuý”.

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thành L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 16/3/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 277/KLGĐ còn nguyên vẹn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; trả lại bị cáo 540.000 đồng.

(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 6 năm 2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ