vanban.org

Bản án 78/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 17/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: 1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thu H 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/12/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 78/2020/HS-ST
Ngày 17 tháng 6 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Tư

Ông Nguyễn Văn Tư

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2020/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2020/QĐXXST-HS ngày 05/6/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thu H, sinh năm 1986; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm Đ, đường T, Tổ dân phố số A phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 8/12; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1957 và bà Vũ Thị K, sinh năm 1963; Gia đình có hai chị em, bị cáo là thứ nhất; bị cáo có chồng là anh Hoàng Mạnh L, sinh năm 1984 (Đã ly hôn) và có 01 con là Nguyễn Thị Hương L, sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tam giam Công an tỉnh Bắc Giang. (Có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972

Địa chỉ: Thôn M, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Chị Lục Thị L, sinh năm 1986.

HKTT: Xóm A thôn T, xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang.

Địa chỉ: Khu S, phường L, thành phố N, tỉnh Bắc Ninh.

* Người chứng kiến:

- Ông Hoàng Văn C sinh năm 1960

Địa chỉ: Thôn B xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Ông Trần Đình V, sinh năm 1963

Địa chỉ: Tổ 3, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 40 phút, ngày 17/12/2019, tại khu vực đất mới thuộc thôn M, xã T, thành phố B, tổ công tác Công an phường M, thành phố B bắt quả tang Nguyễn Thu H, sinh năm 1986. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm Đ, đường T, Tổ dân phố số 3, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:

- 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa và đường viền màu xanh, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín hai đầu, bên trong đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ trên một mặt của viên nén in chữ WY, tất cả được quấn ngoài băng đoạn băng dính màu đen, nghi là ma túy tổng hợp. Thu giữ tại nền đất cạnh chỗ H đứng khi bị bắt do H thả từ tay trái xuống, được cho vào 01 phong bì dán kín niêm phong tại chỗ và lập biên bản niêm phong kèm theo.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng hồng đã qua sử dụng, số Imei 355697073286027.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 98M4-XXX đã qua sử dụng.

- 01 túi đeo giả da màu đen.

- 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thu H.

- 1.170.000 tiền Việt Nam đồng.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thu H đã thu giữ ở dưới đệm ngủ trên gác sép nơi H ở và sinh hoạt gồm:

- 01 túi nilon màu xanh một đầu có rãnh khoá nhựa bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu xanh bên trong đựng 01 túi nilon một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu xanh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu xanh bên trong chứa chất bột màu hồng, đỏ, xanh;

- 02 đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu bên trong mỗi ống chứa 01 viên nén màu hồng;

- 01 đoạn ống nhựa màu hồng và 01 đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi ống chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng, 02 đoạn ống nhựa này được quấn bằng băng dính màu đen;

- 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu xanh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng;

- 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu xanh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng;

- 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu xanh, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín hai đầu bên trong chứa 01 viên nén màu hồng được quấn với nhau bằng băng dính màu đen;

- 01 túi nilon màu trắng một đầu mỗi túi có rãnh khoá nhựa viền màu xanh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín hai đầu bên trong chứa 01 viên nén màu hồng được quấn với nhau bằng băng dính màu đen;

- 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu xanh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng được quấn với nhau bằng băng dính màu đen. Tất cả được gói trong một tờ giấy ăn màu trắng nghi là ma tuý tổng hợp.

Tất cả được cho vào một phong bì thư dán kín và lập biên bản niêm phong tại chỗ, có ký hiệu là MĐ1.

Ngày 19/12/2019, Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Bắc Giang có kết luận giám định số 2035/KL-KTHS kết luận:

1. Trong 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong gửi giám định:

Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có lãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh và 01 (một) viên nén màu hồng đỏ, trên một mặt của viên nén có chữ “WY” đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín hai đầu, túi ni lon và đoạn ống nhựa được quấn lại với nhau băng băng dính màu đen đều là chất ma túy Methamphetamine, có tống khối lượng 0,290 gam.

2. Trong 01 (một) phong bì thư có ký hiệu “MĐ1” đã được niêm phong gửi giám định:

Trong 01 (một) túi ni lon màu xanh một đầu có rãnh khóa bằng nhựa:

- Tính thể màu trắng đựng trong 02 (hai) túi ni lon màu trắng một đầu của mỗi túi đều có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,752 gam.

- Tính thế mầu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rânh khóa băng nhựa, viền màu xanh và 01 (một) viên nén màu hồng đỏ, trên một mặt của viên nén có chữ "WY" đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín hai đầu, túi ni lon và đoạn ống nhựa được quấn lại với nhau bằng băng dính màu đen đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,291 gam.

- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh và 01 (một) viên nén màu hồng đỏ, trên một mặt của viên nén có chữ “WY” đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín hai đầu, túi ni lon và đoạn ống nhựa được quấn lại với nhau bằng băng dính màu đen đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,295 gam.

- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh và 01 (một) viên nén màu hồng đỏ trên một mặt của viên nén có chữ “WY” đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, túi ni lon và đoạn ống nhựa được quấn lại với nhau bằng băng dính màu đen đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,282 gam.

- Trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh:

+ Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,084 gam.

+ 02 (hai) viên nén màu hồng đỏ, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” đựng trong 02 (hai) đoạn ống nhựa màu hồng đều được hàn kín hai đầu đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,205 gam.

+ 01 (một) viên nén màu hồng đỏ, trên một mặt của viên nén chữ “WY” đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín hai đầu và 01 (một) viên nén màu hồng đỏ, trên một mặt của viên nén có chữ “WY” đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu, hai đoạn ống nhựa được quấn lại với nhau bằng băng dính màu đen đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,199 gam.

+ Chất bột màu hồng đỏ và màu xanh đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,026 gam.

Quá trình điều tra Nguyễn Thu H khai nhận:

Khoảng 14 giờ ngày 17/12/2019, H nhận được điện thoại của một nam thanh niên mới quen, trong khi nói chuyện H hỏi mua ma tuý cuả thanh niên này với giá 200.000đ, người này đồng ý và hẹn nhau ở khu đất mới thuộc xã T để giao nhận ma tuý. Sau đó H đi xe mô tô biểm kiểm soát 98M4-XXX đến chỗ hẹn gặp thanh niên này, người này đưa cho H gói ma tuý bên ngoài được quấn băng dính màu đen, H cầm ở tay trái và chuẩn bị trả tiền thì có lực lượng Công an đến bắt giữ, do sợ bị bắt nên H đã thả từ tay trái gói ma tuý vừa mua xuống đất cạnh chỗ H đứng nhưng đã bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ. Sau đó mời người chứng kiến đến niêm phong tại chỗ vào trong một phong bì thư dán kín và đưa H cùng vật chứng về trụ sở Công an xã T, thành phố B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của H. Kết quả khám xét thu giữ các vật chứng như đã nêu trên.

Đối với đối tượng nam thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Thu H, khi thấy lực lượng công an nam thanh niên này đã bỏ chạy, tổ công tác công an phường M có truy đuổi nhưng không bắt giữ được.

Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ khi khám xét khẩn cấp Nguyễn Thu H khai: Chiều ngày 16/12/2019 H vẫn mua của nam thanh niên trên, không biết tên tuổi và địa chỉ có số điện thoại 0344277041 với số tiền 1.000.000đ, mục đích để sử dụng.

Số điện thoại: 0344277041, H khai là của nam thanh niên đã gọi điện bán ma túy cho H. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu, xác minh xác định: số điện thoại trên là số thuê bao trả trước được đăng ký tên của chị Lục Thị L, sinh năm 1986, nơi cư trú: tổ 7 M, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, hiện chị L đang làm công nhân tại công ty Jaeyoung vina ở khu công nghiệp Q, tỉnh Bắc Ninh. Chị L trình bày không sử dụng số điện thoại 0344277041 nêu trên, ai là người sử dụng số điện thoại này thì chị không biết, chị không quen biết hay có quan hệ gì với H.

Chiếc xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda (TQ), loại xe Wave anpha, mầu sơn xanh, BKS 98M4-XXX, số máy: VLKZS150FMG-2*000070847*, số khung: VVTBCH013VT013108 đã qua sử dụng; H khai mua lại của một người đàn ông không quen biết ở khu vực cầu sắt M từ khoảng hơn 01 năm trước với giá là 1.000.000đ. Khi mua có giấy tờ đăng ký xe nhưng H đã làm mất. Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang đã giám đinh số khung, số máy chiếc xe mô tô này, kết

luận:

Số

máy

VLKZS150FMG-2*000070847*,

số

khung VVTBCH013VT013108 không bị hàn ghép, đóng đục lại. Kết quả tra cứu nguồn gốc chiếc xe mô tô trên nhưng không xác định được chủ sở hữu và không thuộc tang vật của vụ án hình sự nào. Xác minh, tra cứu BKS 98M4-XXX, chủ xe là Nguyễn Văn T, nhãn hiệu xe YOSHIDA.

Vật chứng của vụ án được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 26/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố Nguyễn Thu H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thu H khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người chứng kiến vắng mặt nhưng có lời khai trong hồ sơ như đã nêu ở trên.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thu H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thu H từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 17/12/2019. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Thu H.

3. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định và chiếc Biển kiểm soát 98M4-XXX

- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước những tài sản sau:

+ Chiếc xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda (TQ), loại xe Wave anpha, mầu sơn xanh, số máy: VLKZS150FMG-2*000070847*, số khung: VVTBCH013VT013108 đã qua sử dụng;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng hồng đã qua sử dụng, số Imei 355697073286027.

- Trả lại cho bị cáo 01 túi đeo giả da màu đen, 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thu H và số tiền 1.170.000 đồng, nhưng tạm giữ lại số tiền 1.170.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ váo các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, tuy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự có mặt của đương sự: Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người chứng kiến được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 15 giờ 40 phút, ngày 17/12/2019, tại khu vực đất mới thuộc thôn M, xã T, thành phố B, tổ công tác Công an phường M, thành phố B bắt quả tang Nguyễn Thu H, sinh năm 1986. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm Đ, đường T, Tổ dân phố số 3, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, có hành vi tàng trữ trái phép 0,290 gam chất ma tuý Methamphetamine, khám xét nơi ở của H thu giữ 2,134 gam chất ma tuý Methamphetamine. Tổng số thu giữ của Nguyễn Thu H là 2,424 gam chất ma tuý Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo Chung theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, bị xã hội lên án. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân kéo theo nhiều tội phạm nguy hiểm khác như nghiện hút,trộm cắp tài sản, cướp tài sản.... là căn nguyên của căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS...là nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, an toàn trật tự công cộng của xã hội. Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, biết rõ tác hại của ma túy nhưng chỉ vì mục đích, nhu cầu cá nhân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân gì.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi lượng hình.

Với tình chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sư như trên. Xét thấy cần thiết phải bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người công dân biết tuân thủ pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không thuộc trường hợp hộ nghèo hay có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để tăng tính răn đe và phòng ngừa đối với tội phạm về ma túy, phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Về vật chứng:

- Đối với 02 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và chiếc Biển kiểm soát 98M4-XXX không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng hồng đã qua sử dụng, số Imei 355697073286027 và 01 xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda (TQ), loại xe Wave anpha, mầu sơn xanh, số máy: VLKZS150FMG-2*000070847*, số khung: VVTBCH013VT013108 đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 túi đeo giả da màu đen, 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thu H, số tiền 1.170.000 đồng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo. Riêng số tiền 1.170.000 đồng cần giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

- Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo nhưng bị cáo khai không quen biết, cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác minh xử lý, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ngoài ra, cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thu H 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/12/2019.

2.2. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thu H 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước

3. Về vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định và chiếc Biển kiểm soát 98M4-XXX

3.2. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước những tài sản sau:

+ Chiếc xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda (TQ), loại xe Wave anpha, mầu sơn xanh, BKS 98M4-XXX, số máy: VLKZS150FMG-2*000070847*, số khung: VVTBCH013VT013108 đã qua sử dụng;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng hồng đã qua sử dụng, số Imei 355697073286027.

3.3 Trả lại cho bị cáo 01 túi đeo giả da màu đen, 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thu H và số tiền 1.170.000 đồng, nhưng tạm giữ lại số tiền 1.170.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ