vanban.org

Bản án 78/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim N

Chị Nguyễn Thị Kim N được ly hôn với anh Nguyễn Minh T. Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị Kim N được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo K - sinh ngày 19/11/2013 cho đến khi K đủ 18 tuổi, lao động được. Anh Nguyễn Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng là 745.000 đồng (bảy trăm bốn m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N và bị đơn Nguyễn Minh T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim N
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 04/05/2020.
V/v tranh chấp: xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Phước

2. Ông Trần Văn Nghiệm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tham gia phiên Tòa: ông Đoàn Khắc Huy – Kiểm sát viên

Trong ngày 04 tháng 05 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 375/2019/TLST-HNGĐ ngày 05/12/2019 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐST- HNGĐ ngày 16/03/2020, quyết định hoãn phiên tòa số 16/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16/4/2020 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: NGUYỄN THỊ KIM N – sinh năm 1989;

Địa chỉ: tổ *, khu phố K, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: NGUYỄN MINH T – sinh năm 1985;

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện G, Tiền Giang.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim N trình bày: chị và anh Nguyễn Minh T cưới nhau vào năm 2013, có sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Sau khi cưới chị và anh T sống hạnh phúc đến tháng 4/2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T còn đánh chị. Chị và anh T sống ly thân từ tháng 4/2015 cho đến nay. Nay chị N yêu cầu xin ly hôn với anh T.

- Về con chung: có 01 cháu tên Nguyễn Bảo K - sinh ngày 19/11/2013. Hiện cháu K đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu K, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Minh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị N.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Minh T; về con chung: chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo K - sinh ngày 19/11/2013, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật; về tài sản chung: không có; về nợ chung: không có.

Bị đơn anh Nguyễn Minh T vắng mặt

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim N; về con chung: giao cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo K - sinh ngày 19/11/2013, anh Nguyễn Minh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu K, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật; về tài sản chung: không có; về nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định quan hệ đang tranh chấp là “xin ly hôn”.

Xét bị đơn anh Nguyễn Minh T đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh T.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim N là có cơ sở. Vì chị Nguyễn Thị Kim N và anh Nguyễn Minh T cưới nhau vào năm 2013, được sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương số 23/2013 ngày 08/05/2013. Quá trình chung sống giữa chị N và anh T sống hạnh phúc đến tháng 4/2015 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T còn hành hung chị N. Chị N và anh T sống ly thân từ tháng 4/2015 cho đến nay mà giữa chị N, anh T vẫn không hàn gắn được tình cảm. Cho thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh T đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo K - sinh ngày 19/11/2013. Xét yêu cầu của chị N phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: chị N yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Xét yêu cầu này là có cơ sở vì theo quy định tại khoản 1 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình thì mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nhưng chị N và anh T không thỏa thuận được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của anh T và nhu cầu thiết yếu của cháu K, đồng thời theo quy định của pháp luật, mức cấp dưỡng mỗi tháng không quá ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định là 745.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K là 745.000 đồng/tháng là phù hợp với Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: không có

Về án phí: do chị N là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 174, 175, 227, 233, 235 Bộ luật tố tụng dân sự

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim N

Chị Nguyễn Thị Kim N được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

- Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị Kim N được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo K - sinh ngày 19/11/2013 cho đến khi K đủ 18 tuổi, lao động được. Anh Nguyễn Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng là 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), bắt đầu thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi, lao động được Anh Nguyễn Minh T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

- Về án phí: chị Nguyễn Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị N đã nộp theo biên lai thu số 0016166 ngày 05/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, do vậy chị N đã nộp xong án phí.

Anh Nguyễn Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Báo nguyên đơn có mặt biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo bị đơn vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án văn hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ