vanban.org

Bản án 78/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 10/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phú B phạm tội: “vi phạm quy định về khai thác,

bảo vệ rừng và lâm sản”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phú B 01 (một) năm 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự sơ thẩm - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phú B phạm tội: “vi phạm quy định về khai thác,
  • Căn cứ chính? Điều 232 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2019/HS-ST
Ngày 10/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tú Oanh.

2. Ông Hoàng Viết Oanh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Muôn, thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

tham gia phiên tòa: Ông Trần Tố Lâm, Kiểm sát viên.

Ngày 10/4/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2019/HS-ST ngày 21/3/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2019/QĐXXST-HS ngày 29/3/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Phú B, sinh ngày 02/10/1987, tại tỉnh Lâm Đồng.

Nơi cư trú: Thôn Đà M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Phú X, sinh năm 1963 và bà Bùi Thị Minh T, sinh năm 1966; có vợ Nguyễn Thúy H và hai con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: không; Tiền sự: 01, ngày 17/5/2018, bị Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái pháp luật’’, bằng hình thức phạt số tiền: 27.500.000 đồng đến ngày 23/5/2018 đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại;

có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Khắc K, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ,

tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

2. Bà Đỗ Thị Kim Q, Sinh năm 1979; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh

Lâm Đồng; vắng mặt.

3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Tổ dân phố 6, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phú B đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xử

phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái pháp luật’’, chưa chấp hành xong nhưng tiếp tục phạm tội, cụ thể như sau:

Nguyễn Phú B và Nguyễn Khắc K, cùng góp tiền kinh doanh mua bán gỗ để

đóng bàn ghế bán lại kiếm lời. Khoảng tháng 5/2018 Nguyễn Khắc K lên mạng xã hội Facebook, thấy có người đăng thông tin bán gỗ Cẩm lai tại địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. K gọi vào số điện thoại 0941429000 của người đăng thông tin bán gỗ có trên trang Facebook này, thì gặp một người phụ nữ tự giới thiệu tên là L, đang trú tại địa chỉ: Hẻm 53, đường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và nói có gỗ cần bán. Sau đó, K và B cùng rủ nhau đi gặp người phụ nữ tên L để thoả thuận mua bán gỗ. Ngày 31/5/2018, B điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển số 49A- 165.04 chở K cùng đi đến thành phố B, để liên hệ mua gỗ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày cả hai đi đến địa chỉ: Hẻm 53, đường L, thành phố B, thì gặp người phụ nữ tên L. Tại đây, K thoả thuận mua của L 05 hộp và 02 tấm gỗ (đều là gỗ Cẩm lai) với giá 20.000.000 đồng và đặt cọc cho L số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền còn lại các bên thoả thuận sẽ trả đủ sau khi giao nhận gỗ. Đến khoảng 16 giờ ngày 01/6/2018, B điều khiển xe ô tô biển số 49A- 165.04 chở K quay lại nhà L thanh toán hết số tiền còn lại là 15.000.000 đồng và bốc gỗ lên xe ô tô để vận chuyển về huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Khi B đang điều khiển xe ô tô biển số 49A- 165.04 cùng K vận chuyển số gỗ trên lưu thông trên đường L, thành phố B, thì bị lực lượng tuần tra Công an thành phố B, phát hiện. Tại thời điểm kiểm tra B và K không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của số gỗ đang vận chuyển, nên Cơ quan Công an thành phố B, đã lập biên bản tạm giữ: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển số: 49A-165.04 màu bạc và giấy tờ xe ô tô, gồm: 01 giấy chứng nhận kiểm định (bản gốc), 01 giấy chứng nhận bảo hiểm (bản gốc), 01 giấy chứng nhận đăng ký xê ô tô (bản phô tô); tạm giữ 01 giấy phép lái xe số: 790118011468 do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/5/2016 ghi tên Nguyễn Phú B và 05 hộp, 02 tấm gỗ xẻ do Bảo đang vận chuyển.

Tại bản kết luận giám định ngày 19/7/2018, của Chi cục kiểm lâm Đắk Lắk và

Khoa N trường Đại học T, kết luận:

Tổng khối lượng gỗ xẻ là: 0,344 m3/ 07 hộp, tấm; quy tròn là: 0,550m3.

Lý lịch gỗ như sau: STT Tên gỗ Nhóm

Số

Quy cách lâm sản

Số

Khối

Ghi

gỗ

hiệu

lượng lượng chú

Dài

Dày Rộng

(hộp, (m3)

(m)

(cm)

(cm)

tấm) 01 Cẩm lai IIA

01

0,90

21

31

01

0,058 02 Cẩm lai IIA

02

0,79

22

36

01

0,062 03 Cẩm lai IIA

03

0,90

22

25

01

0,049 04 Cẩm lai IIA

04

0,90

22

28

01

0,055 05 Cẩm lai IIA

05

0,85

35

37

01

0,110 06 Cẩm lai IIA

06

1,60

1,0

42

01

0,006 07 Cẩm lai IIA

07

1,90

0,5

43

01

0,004

Tổng

0,344

cộng

Tại bản cáo trạng số: 90/CT-VKS TP. BMT ngày 19/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Phú B về tội “vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Phú B khai nhận: Bị cáo đã bị

Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái pháp luật’’ với tổng số tiền phải nộp là 51.800.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính. Tuy nhiên, vào ngày 31/5/2018, bị cáo điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển số 49A- 165.04 chở K cùng đi đến thành phố B, để liên hệ mua gỗ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày cả hai đi đến địa chỉ: Hẻm 53, đường L, thành phố B, thì gặp người phụ nữ tên L. Tại đây, K thoả thuận mua của L 05 hộp và 02 tấm gỗ với giá 20.000.000 đồng và đặt cọc cho L số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền còn lại sẽ trả đủ sau khi giao nhận gỗ. Đến khoảng 16 giờ ngày 01/6/2018, bị cáo điều khiển xe ô tô trên chở K quay lại nhà L thanh toán hết số tiền còn lại là 15.000.000 đồng và bốc gỗ lên xe ô tô để vận chuyển về huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Khi bị cáo đang điều khiển xe ô tô biển số 49A-165.04 cùng K vận chuyển số gỗ trên lưu thông trên đường L, thành phố B, thì bị lực lượng tuần tra Công an thành phố B, phát hiện xử lý.

Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Khắc K

khai nhận: Anh và bị cáo B có làm ăn chung vào ngày 31/5/2018, bị cáo B điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển số 49A- 165.04 chở anh K cùng đi đến thành phố B để liên hệ mua gỗ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày cả hai đi đến địa chỉ: Hẻm 53, đường L, thành phố B, thì gặp người phụ nữ tên L. Tại đây, anh K thoả thuận mua của L 05 hộp và 02 tấm gỗ với giá 20.000.000 đồng và đặt cọc cho L số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền còn lại sẽ trả đủ sau khi giao nhận gỗ. Đến khoảng 16 giờ ngày 01/6/2018, bị cáo B điều khiển xe ô tô trên chở anh K quay lại nhà L thanh toán hết số tiền còn lại là 15.000.000 đồng và bốc gỗ lên xe ô tô để vận chuyển về huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Khi bị cáo B đang điều khiển xe ô tô biển số 49A- 165.04 cùng K vận chuyển số gỗ trên lưu thông trên đường L, thành phố B, thì bị lực lượng tuần tra Công an thành phố B, phát hiện xử lý.

Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Kim Q

khai nhận: Xe ô tô biển số: 49A- 165.04 do bà đứng tên chủ sở hữu ngày 03/5/2018 bà Q cho bị cáo và Nguyễn Khắc K thuê chiếc xe này bằng hình thức “Hợp đồng cho thuê xe tự lái’’. Việc Nguyễn Phú B và Nguyễn Khắc K sử dụng chiếc xe ô tô biển số: 49A- 165.04, để vận chuyển lâm sản trái pháp luật bà Q không biết. Ngày 07/8/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, đã Quyết định xử lý vật chứng, giao trả chiếc xe ô tô biển số: 49A- 165.04 cùng giấy tờ xe cho bà Q nhận quản lý, sử dụng nên nay bà không có ý kiến gì.

Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L

khai nhận: Do có nhu cầu mua gỗ để sử dụng, nên bà L đã mua gỗ của nhiều người và ở nhiều địa bàn khác nhau (không rõ nhân thân lai lịch của người bán và địa bàn cụ thể). Sau khi sử dụng để làm nhà thì còn dư lại một số gỗ, gồm các loại Cẩm lai, Hương, Pơ mu. Bà Liên cất giữ số gỗ này tại địa chỉ: Đường L, phường T, thành phố B . Khoảng tháng 5/2018 bà L rao bán số gỗ còn dư trên mạng xã hội Facebook và có để lại số điện 0941429000 cho những người có nhu cầu mua gỗ liên lạc. Sau khi đăng thông tin bán gỗ trên mạng xã hội, thì có nhiều người (không rõ nhân thân, lai lịch) liên lạc và trực tiếp đến nhà bà xem gỗ. Tuy nhiên, ngày 11/6/2018 Hạt kiểm lâm thành phố B, đã kiểm tra tại nơi cư trú của bà L và phát hiện thu giữ toàn bộ số gỗ bà L đã rao bán trên mạng xã hội Facebook, gồm: 0,228m3 gỗ xẻ các loại. Ngày 15/6/2018 Hạt kiểm lâm thành phố B, đã Quyết định xử phạt hành chính đối với bà L về hành vi “Cất giữ lâm sản trái pháp luật’’, bằng hình thức phạt số tiền 3.000.000 đồng. Bà L khẳng định không quen biết và cũng không giao dịch mua bán gỗ với bị cáo B và Nguyễn Khắc K.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đã đánh giá tính chất,

mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm m khoản 1, khoản 4 Điều 232; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều

36 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú B mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tại

không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố

tụng hình sự.

Chấp nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã

giao trả 01 xe ô tô biển số: 49A- 165.04; 01 giấy chứng nhận kiểm định số KC 3688779; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm số XH – BB 0223108 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026489 cho bà Q nhận quản lý, sử dụng.

Ngày 13/3/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã Quyết

định xử lý vật chứng, giao trả giấy phép lái xe số: 790118011468 cho bị cáo Nguyễn Phú B nhận quản lý.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số gỗ cẩm lại không có hồ sơ chứng minh

nguồn gốc hợp pháp thu giữ của bị cáo B và anh K là 0,344 m3/ 07 hộp, tấm; quy tròn là: 0,550m3.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát nhân

dân thành phố Buôn Ma Thuột.

Tại phần lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét

xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được hưởng các chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật nhà nước, có điều kiện chăm sóc vợ, con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố

Buôn Ma Thuột, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay về cơ bản là phù hợp

với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Xét hành vi của bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản (gỗ) trái pháp luật vào ngày 17/5/2018 nhưng đến ngày 01/6/2018 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép và vận chuyển 0,550m3 gỗ Cẩm Lai (thuộc nhóm IIA) không có nguồn gốc, không có hồ sơ hợp pháp, gỗ không có dấu búa của Kiểm Lâm theo quy định của pháp luật là phạm tội “vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 của Bộ luật hình sự.

Điều 232 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc

trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) …;

m) Khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ hoặc

thực vật rừng ngoài gỗ có khối lượng hoặc trị giá dưới mức quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm l khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp

đến các quy định của nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng. Bị cáo nhận thức được rằng nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ hoặc thực vật rừng ngoài gỗ, mọi hành vi xâm phạm đều bị trừng trị nghiêm khắc. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật và vì động cơ vụ lợi, mặc dù đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản (gỗ) trái pháp luật và chưa được xóa tiền sự nhưng vào ngày 01/6/2018 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi mua bán và vận chuyển 0,550m3 gỗ Cẩm Lai không có nguồn gốc, không có hồ sơ hợp pháp, gỗ không có dấu búa của Kiểm Lâm theo quy định của pháp luật. Cho nên đối với bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội. Có như vậy, mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo chưa có tiền án, sau khi phạm tội tại Cơ quan

Điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số gỗ bị cáo vận chuyển có khối lượng ít. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét trong quá trình lượng hình để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Đối với hành vi của bị cáo cần tuyên phạt một

khoản tiền sung ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển số: 49A- 165.04, quá trình

điều tra xác định: Chiếc xe ô tô biển số: 49A- 165.04, do bà Đỗ Thị Kim Q đăng ký chủ sở hữu. Ngày 03/5/2018 bà Q cho bị cáo và Nguyễn Khắc K thuê chiếc xe này bằng hình thức “Hợp đồng cho thuê xe tự lái’’. Việc bị cáo và Nguyễn Khắc K sử dụng chiếc xe ô tô trên, để vận chuyển gỗ trái pháp luật bà Q không biết. Do vậy, ngày 07/8/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã Quyết định xử lý vật chứng, giao trả chiếc xe ô tô biển số: 49A- 165.04 cùng giấy tờ xe cho bà Q nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.

Đối với 01 giấy phép lái xe, số: 790118011468 do Sở giao thông vận tải thành

phố Hồ Chí Minh, cấp ngày 04/5/2016 Cơ quan điều tra đã thu giữ. Qúa trình điều tra xác định, giấy phép lái xe trên thuộc quyền quản lý và sử dụng của bị cáo. Do vậy, ngày 13/3/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã Quyết định xử lý vật chứng, giao trả giấy phép lái xe số: 790118011468 cho bị cáo nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số gỗ Cẩm Lai không có hồ sơ chứng

minh nguồn gốc hợp pháp thu giữ của bị cáo và Nguyễn Khắc K, gồm: 0,344 m3/ 07 hộp, tấm; quy tròn là: 0,550m3.

Trong vụ án này, đối với anh Nguyễn Khắc K là người đã cùng bị cáo mua

0,550m3 gỗ Cẩm lai không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Qúa trình điều tra xác định: Nguyễn Khắc K chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa bị kết án về tội (hành vi) Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Do vậy, ngày 01/3/2019 Cơ quan Công an thành phố Buôn Ma Thuột, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Khắc K về hành vi “Mua bán lâm sản trái với quy định của Nhà nước’’ bằng hình thức phạt số tiền: 3.000.000 đồng, theo quy định tại Điểm d, khoản 1, Điều 23 Nghị Định 157/2013/NĐ- CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ, là đúng quy định của pháp luật.

Đối với bà Nguyễn Thị L qúa trình điều tra không đủ căn cứ kết luận bà L đã

bán 0,550m3 gỗ Cẩm lai không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp cho bị cáo và Nguyễn Khắc K. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tách hành vi của Nguyễn Thị L ra khỏi nội dung vụ án để tiếp tục xác minh xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chị Đỗ Thị Kim Q, là chủ sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota

Fortuner, biển số: 49A- 165.04. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe ô tô biển số: 49A-165.04 vào việc vận chuyển gỗ trái pháp luật, bà Q không biết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không đề cập xử lý đối với bà Q là phù hợp.

Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phú B phạm tội: “vi phạm quy định về khai thác,

bảo vệ rừng và lâm sản”.

Căn cứ điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phú B 01 (một) năm 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Phú B cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm

Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễm khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Phú B.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 4 Điều 232 của Bộ luật hình sự.

Phạt bị cáo Nguyễn Phú B 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà Nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma

Thuột, đã giao trả 01 xe ô tô biển số: 49A- 165.04; 01 giấy chứng nhận kiểm định số KC 3688779; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm số XH – BB 0223108 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026489 cho bà Q nhận quản lý, sử dụng.

Chấp nhận Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã giao trả

giấy phép lái xe số: 790118011468 cho bị cáo Nguyễn Phú B nhận quản lý.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số gỗ cẩm lại không có hồ sơ chứng minh

nguồn gốc hợp pháp thu giữ của bị cáo Nguyễn Phú B và anh Nguyễn Khắc K là 0,344 m3/ 07 hộp, tấm; quy tròn là: 0,550m3. (đặc điểm số lượng cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/3/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục Thi hành án dân sư thành phố B).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng

hình sự; khoản 1 Điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Phú B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án công khai.

Cỡ chữ