- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giàng A D (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2019/HS-ST Ngày: 05 - 11 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng.
Thẩm phán: Ông Lò Văn Lịch.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Vũ.
Bà Nguyễn Thị Khuyên.
Ông Lò Văn Sinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2019/QĐXXST-HS ngày 23/10/2019 đối với bị cáo:
Giàng A D (tên gọi khác: Không); sinh ngày 29/8/1972 tại huyện T, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nam. Nơi cư trú: Bản Đ, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng Tống P (1944) và bà Ngải Lao M (1946); có vợ là Hoàng Là D (1976) và 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/9/2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 12 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 19/01/2012 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo bị tạm giữ ngày 02/9/2019, tạm giam từ ngày 05/9/2019 cho đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Giàng A D: Ông Phùng Việt H - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 29/8/2019, Giàng A D gặp một người đàn ông dân tộc Thái (D không biết tên, địa chỉ) tại khu vực Km 42 thuộc bản Đ1, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên qua trao đổi thì biết người này có Heroine bán nên D và người đàn ông trên hẹn nhau khoảng 9 đến 10 giờ ngày 02/9/2019 sẽ gặp nhau tại mốc 68 biên giới Việt Nam – Lào để giao dịch mua bán Heroine. Khoảng 4 giờ ngày 02/9/2019, D mang theo 103.450.000 đồng tiền Việt Nam, 01 đèn pin, 01 điện thoại di động, 01 con dao nhọn rồi đi bộ tới khu vực mốc 68 như đã hẹn. Tại đây D đã mua 01 bánh Heroine có khối lượng 352,52 gam với giá 100 triệu đồng và mua nợ 04 cục Heroine có tổng khối lượng là 161,14 gam với giá 40 triệu đồng của người đàn ông trên, mua bán xong D cầm số ma túy đi về, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng hơn 17 giờ cùng ngày, D về đến khu vực bản Đ, xã P, huyện N,tỉnh Điện Biên thì bị Công an huyện N phát hiện bắt giữ cùng vật chứng.
Tại bản Kết luận giám định số 894/GĐ-PC09 ngày 12/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 05 (năm) mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng A D gửi giám định là ma túy: Loại Heroine, nằm trong danh mục các chất ma túy, STT:9, Mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Khối lượng vật chứng thu giữ của Giàng A D là 513,66 gam Heroine.
Bản Cáo trạng số 63/CT-VKS-P1 ngày 14/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên để xét xử bị cáo Giàng A D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Giàng A D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo Giàng A D 20 năm tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Giàng A D không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo, nhận thức hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, trình độ văn hóa thấp. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên. Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo Giàng A D đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
ơ
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo Giàng A D:
Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A D khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 20 phút ngày 02/9/2019 bị cáo bị tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã P đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản Đ, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên phát hiện và bắt quả tang bị cáo đang có hành vi vận chuyển 513,66 gam Heroine. Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là do bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Thái (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực Km 42 thuộc bản Đ1, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên. Mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Hội đồng xét xử thấy rằng, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất vụ án:
Đánh giá tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, trực tiếp là hoạt động mua bán trái phép chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm khắc.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo Giàng A D đã có hành vi mua bán trái phép 513,66 gam Heroine đã cấu thành tình tiết định khung, được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân tỉnh Điện Biên truy tố đối với bị cáo Giàng A D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, bị cáo không bị oan sai.
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“…..
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 20 năm, chung thân, tử hình:
…
b) Heroine, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng 100 gam trở lên”.
Bị cáo là người có đầy đủ năng năng lực chịu trách nhiệm hình sự .
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Đối với đề nghị của người bào chữa về việc xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt và xin miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Do sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự : “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, sống ở địa bàn đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Giàng A D là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, xa nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, số vật chứng đã thu giữ của bị cáo cần xử lý như sau:
- Đối với 507,72 gam Heroine là vật chứng của vụ án còn lại sau khi giám định cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu tím, mặt màn hình bị 1 vết nứt vỡ, kèm theo ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo màu đen; 01 con dao nhọn dài 42 cm, cán dao bằng gỗ dài 16 cm, lưỡi dao bằng bằng kim loại dài 26 cm, bản rộng 4,5 cm, vỏ bọc dao bằng gỗ dài 30 cm, có dây đeo bằng vải; 01 chiếc đèn pin đội đầu màu vàng đen, nhãn hiệu YaRong YR - 618-26W, dây đeo co giãn, màu đen (đèn pin cũ đã qua sử dụng) và số tiền 3.450.000 đồng là đồ vật, tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, nhưng do bị cáo đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về các vấn đề khác: Nguồn gốc số Heroine thu giữ của bị cáo Giàng A D là do Giàng A D mua của một người đàn ông dân tộc Thái, D không biết tên và địa chỉ, Cơ quan điều tra không đủ cơ sở làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Giàng A D (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Giàng A D 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (Ngày 02/9/2019).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 507,72 gam Heroine là vật chứng của vụ án còn lại sau khi giám định.
- Trả lại cho bị cáo Giàng A D:
+ 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu tím, mặt màn hình bị 1 vết nứt vỡ, kèm theo ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo màu đen. Không kiểm tra chất lượng máy bên trong máy (điện thoại cũ, đã qua sử dụng).
+ 01 con dao nhọn dài 42 cm, cán dao bằng gỗ dài 16 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 26 cm, bản rộng 4,5 cm, vỏ bọc dao bằng gỗ dài 30 cm, có dây đeo bằng vải.
+ 01 chiếc đèn pin đội đầu màu vàng đen, nhãn hiệu YaRong YR - 618-26W, dây đeo co giãn, màu đen (đèn pin cũ đã qua sử dụng).
+ Số tiền 3.450.000 đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Giàng A D đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong của UBND xã P được dán kín. (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 14/10/2019).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng A D.
5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/11/2019) lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Cục THADS tỉnh Điện Biên; - UBND xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên (Thông báo); - Phòng Hành chính Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Thu Hằng |