- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ha Thanh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2019/HS-ST Ngày: 23-08-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đức Thiện
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Quyết
2. Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 23/8/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Hà Thanh T, tên gọi khác: không; Sinh ngày: 01/4/1992 tại thành phố Đ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: K391/H44/37 đường V, tổ 28, phường X, quận T, thành phố Đ; Nghề nghiệp: Thợ điện; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà T1 (sinh năm 1951) và bà Đàm Thị Tịnh T2 (sinh năm 1968); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án: không.
Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 26/3/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 60/2014/HSPT.
Bị cáo bị bắt tạm giữ/tạm giam ngày 19/4/2019. Hiện đang bị tạm giam, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Anh Trương Như Đ.
Anh Bùi Thanh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Thanh T có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội với người tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ). Khoảng 18 giờ ngày 19/4/2019, T gặp Q và hai người bạn của Q có tên là Y và L (đều không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) trên đường H, thành phố Đ. Sau đó, cả nhóm rủ nhau đến quán B trên đường N, thành phố Đ để ăn uống. Tại đây, Q rủ cả nhóm đến quán Bar X đường P, thành phố Đ để sử dụng ma túy. Q liên hệ mua ma túy qua điện thoại rồi nói cho T có người để sẵn ma túy đặt mua trong một bao thuốc lá con ngựa tại hàng ghế chờ xe buýt trước địa chỉ 735 đường V, phường K, quận T, thành phố Đ và Q nói T đến lấy, T đồng ý. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade BKS: 43D1-524.20 đến địa điểm trên lấy ma túy. Khi đến nơi, T tìm kiếm dưới hàng ghế có 01 vỏ bao thuốc lá White Horse, T lắc rồi mở ra kiểm tra thì thấy có ma túy. Ngay lúc đó, tổ tuần tra 8394 Công an phường Thanh Khê Đông đi đến, phát hiện T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, T liền vứt vỏ bao thuốc lá xuống đất. Công an thu giữ bên trong vỏ bao thuốc lá có 01 gói nylong chứa 04 viên nén màu xanh lá cây hình tròn, trên bề mặt có dập nổi hình con thỏ và 01 gói nylong kích thước 03 cm x 04 cm chứa chất tinh thể màu trắng (được niêm phong, ký hiệu là G).
Bản kết luận giám định số 122/GĐ-MT ngày 24/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận 04 viên nén màu xanh là ma túy, loại MDMA có khối lượng là 1,237 gam; tinh thể màu trắng trong gói nylong là ma túy, loại Ketamine có khối lượng là 0,471 gam.
Tổng khối lượng ma túy Hà Thanh T tàng trữ trái phép là: {(1,237 : 5) x 100%} + {(0,471 : 20) x 100%} = 27% (thuộc trường hợp dưới 100%). Theo hướng dẫn tại điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì khối lượng 02 chất ma túy T tàng trữ trái phép thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố Hà Thanh T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hà Thanh T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 122/GĐ-MT ngày 24/4/2019, có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.
Trả lại cho bị cáo:
- Số tiền 1.300.000 đồng (T tích góp được để tiêu xài cá nhân) nhưng cần tiếp tục quy trữ để bảo đảm cho việc thi hành án.
- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu bạc, mặt sau có ghi chữ Iphone, số Imei: 353330070037589, gắn sim có số thuê bao 0702400710 (T sử dụng để liên lạc cá nhân).
- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu bạc, mặt sau có ghi chữ Iphone, số Imei: 354450060038501, gắn sim có số thuê bao 0905211052 (T sử dụng để liên lạc cá nhân).
- 01 điện thoại di động màu đen, loại bàn phím, số Imei: 357141065068984, gắn sim có số thuê bao 0905658045 (T sử dụng để liên lạc cá nhân).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade BKS 43D1-524.20 do Hà Thanh T đứng tên sở hữu.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hà Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.
Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 19/4/2019, tại trước nhà số 735 đường V, phường Thanh Khê Đông, thành phố Đà Nẵng, Hà Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép 1,708 gam ma túy (gồm 1,237 gam ma túy loại DMMA và 0,571 gam ma túy loại Ketamine) nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo Hà Thanh T là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma tuý, gây khó khăn cho công tác kiểm soát chất ma tuý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội; ma túy đang là vấn nạn xã hội và là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 26/3/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 36 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”. Do đó phải xử lý nghiêm khắc để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hà Thanh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là quân nhân xuất ngũ; gia đình của bị cáo có công với cách mạng, có ông bà ngoại được UBND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng tặng Bằng gia đình có công chống Mỹ cứu nước. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với ma túy hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 122/GĐ-MT ngày 24/4/2019, có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng là vật chứng liên quan đến vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu bạc, mặt sau có ghi chữ Iphone, số Imei: 353330070037589, gắn sim có số thuê bao 0702400710; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu bạc, mặt sau có ghi chữ Iphone, số Imei: 354450060038501, gắn sim có số thuê bao 0905211052 và 01 điện thoại di động màu đen, loại bàn phím, số Imei: 357141065068984, gắn sim có số thuê bao 0905658045 thu giữ của Hà Thanh T không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với số tiền 1.300.000đ (một triệu, ba trăm nghìn đồng) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade BKS 43D1-524.20, số khung: 6300FZ677711, số máy: JF63E-1377711 (do Hà Thanh T đứng tên sở hữu), thu giữ của Hà Thanh T không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với đối tượng tên Q là người liên hệ mua ma túy và nhờ Hà Thanh T đi lấy ma túy về sử dụng nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hà Thanh T phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Hà Thanh T: 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2019.
2. Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 122/GĐ-MT ngày 24/4/2019, có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.
+ Hoàn trả cho Hà Thanh T:
- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu bạc, mặt sau có ghi chữ Iphone, số Imei: 353330070037589, gắn sim có số thuê bao 0702400710;
- 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu bạc, mặt sau có ghi chữ Iphone, số Imei: 354450060038501, gắn sim có số thuê bao 0905211052;
- 01 điện thoại di động hiệu NOKIA, số Imei: 357141065068984, gắn sim có số thuê bao 0905658045;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade BKS 43D1-524.20, số khung: 6300FZ377711, số máy: JF63E-1377711 (do Hà Thanh T đứng tên sở hữu),
(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/7/2019).
- Số tiền 1.300.000đ (một triệu, ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 007207 ngày 31/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hà Thanh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Thanh Khê; - VKSND TP Đà Nẵng; - Tòa án ND TP Đà Nẵng; - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng; - Chi cục THADS quận Thanh Khê; - Trại tạm giam CA TP Đà Nẵng; - Cơ quan điều tra CA quận Thanh Khê; - Cơ quan THAHS CA quận Thanh Khê; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đức Thiện |