vanban.org

Bản án 78/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 30/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Phú H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Phú H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 14/6/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Phú H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Phú H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH
---------=---------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2019/HS-ST
Ngày: 30-9-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Huệ.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tạ Khắc Nghĩa .

2. Ông Lưu Danh Sử.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Trần Thanh Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Đạt- Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2019/TLST-HS ngày 05/8/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2019/QĐXXST-HS ngày 17/9/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên Đỗ Phú H, sinh năm 1986; Giới tính: Nam. Nơi ở và ĐKNKTT: Xóm 7, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12, con ông Đỗ Phú C và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 và có 03 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016); Tiền án: Không; Có 01tiền sự:

+Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30/QĐXP ngày 26/4/2019 Đỗ Phú H bị Đồn Công an Gia Sinh, huyện G, tỉnh Ninh Bình xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy“. Đỗ Phú H chưa chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 14/6/2019, chuyển tạm giam ngày 16/6/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (Bị cáo có mặt).

- Người làm chứng:

+ Anh Đinh Xuân H, sinh năm 1954(vắng mặt).

+ Anh Vũ Văn B, sinh năm 1967 (vắng mặt).

+ Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đỗ Phú H là người nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 14/06/2019, Đỗ Phú H đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết từ nhà ở

- 1 -

xóm 7, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình đến xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực ngã ba Anh Trỗi thuộc địa phận thôn A, xã Q, huyện N thì Đỗ Phú H nhìn thấy một người nam giới (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở bên đường trông giống người nghiện ma túy, H đến gần người nam giới hỏi “Anh có hàng không bán cho em một quả” - Ý H hỏi mua một gói Heroine. Người nam giới trả lời“Có, mua bao nhiêu, đưa tiền đây” thì Đỗ Phú H lấy 200.000 đồng đưa cho người nam giới, người này cầm tiền rồi đưa cho H 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng. Đỗ Phú H mở ra kiểm tra xác định đúng là Heroine nên H gói lại và cầm trên tay phải rồi đi bộ tìm nơi sử dụng, còn người nam giới cũng đi luôn. Khi Đỗ Phú H đi trên đường liên thôn thuộc địa phận thôn A, xã Q, huyện N thì gặp Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã Q đang làm nhiệm vụ tuần tra đi đến. Do sợ bị phát hiện cất giấu trái phép chất ma túy nên Đỗ Phú H đã ném 01 gói Heroine đang cầm trên tay trái xuống đường đã bị Tổ công tác phát hiện lập biên bản thu giữ.

Tại bản kết luận giám định số 205/KLGĐ-PC09-MT ngày 15/06/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng ký hiệu M gửi giám định có khối lượng 0,1458 (không phẩy một nghìn bốn trăm năm mươi tám) gam là ma túy, loại Heroine.

Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, có số thứ tự 09; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ”.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên; Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSNQ-HS ngày 01/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Đỗ Phú H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Đỗ Phú H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

*Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/6/2019.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,0521 (không phẩy không nghìn năm trăm hai mươi mốt) gam Heroine còn lại thu của Đỗ Phú H và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 205/KLGĐ-PC09-MT

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu

- 2 -

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N.

Lời nói sau cùng của bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố cụ thể như sau: Bị cáo là người nghiện ma túy nên để có ma túy sử dụng cho bản thân, khoảng 10 giờ ngày 14/6/2019 bị cáo đi nhờ xe của một người đàn ông đi đường đến xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình mua của một người nam giới không quen biết 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng có khối lượng 0,1458 (không phẩy một nghìn bốn trăm năm mươi tám) gam với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo mở ra kiểm tra xác định đúng là Heroine nên bị cáo gói lại và cầm trên tay phải rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã Q phát hiện bắt quả tang trên đường liên thôn thuộc địa phận thôn A, xã Q, huyện N

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định số 205/KLGĐ-PC09-MT ngày 15/06/2019 và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đã đủ cơ sở pháp lý khẳng định bị cáo tàng trữ 0,1458 (không phẩy một nghìn bốn trăm năm mươi tám) gam Heroine nhằm mục sử dụng. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân

- 3 -

thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy:

Hành vi tàng trữ 0,1458 (không phẩy một nghìn bốn trăm năm mươi tám) gam Heroine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Xét bản thân bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi mua ma túy của mình bị Nhà nước cấm,việc nghiện ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến kinh tế, sự phát triển nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình và là con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất hiện nay, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Bị cáo cũng đã bị Đồn Công an Gia Sinh, huyện G, tỉnh Ninh Bình xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy“ tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30/QĐXP ngày 26/4/2019 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hàn vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Điều đó chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật nên cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc, áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy, mới có tác dụng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung đồng thời giúp bị cáo có thời gian cải tạo rèn luyện mình trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Trong vụ án này, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đã bán Heroine cho Đỗ Phú H nên không đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy tàng trữ nhằm sử dụng không nhằm mục đích kiếm lời, đồng thời bản thân bị cáo không có tài sản gì. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0,0521 (không phẩy không nghìn năm trăm hai mươi mốt) gam Heroine còn lại thu của Đỗ Phú H và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 205/KLGĐ-PC09-MT thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.

- Đối với 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, có đề nghị xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp.

- 4 -

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Phú H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Phú H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 14/6/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,0521 (không phẩy không nghìn năm trăm hai mươi mốt) gam Heroine còn lại thu của Đỗ Phú H và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 205/KLGĐ-PC09-MT

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu.

(Chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ