vanban.org

Bản án 78/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 21/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Bảo T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 22/7/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Bảo T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C, TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2019/HS-ST
Ngày: 21/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH T

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu.

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Lê Văn Lâu.

+ Ông Lê Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Liêu - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2019 đối với:

* Bị cáo:

Đặng Bảo T, sinh năm 1995, tại T.

- Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T.

- Nghề nghiệp: Buôn bán.

- Trình độ văn hoá: 09/12.

- Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

- Con ông Đặng Văn H, sinh năm 1968 và bà Đỗ Thị B, sinh năm 1979.

- Bị cáo chưa có vợ con.

- Tiền án: Không.

1

- Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/7/2019, chuyển tạm giam từ ngày 31/7/2019 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt).

* Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1971 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh T.

2. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1966 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 22/7/2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc Đặng Bảo T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên phối hợp cùng Công an xã H, huyện C, tỉnh T tiến hành kiểm tra trại nuôi gà của T ở ấp M, xã H, huyện C, tỉnh T. Quá trình kiểm tra, lực lượng Cảnh sát điều tra phát hiện T có hành vi lấy 01 gói nylon bên trong chứa ma túy, 01 điện thoại di động nokia màu xám xanh và 01 hột quẹt hiệu Zippo từ trong túi quần Jean phía trước bên trái T đang mặc bỏ xuống đất (trên đất có trải lưới gân) ngay sát chân T đang đứng nên lực lượng Cảnh sát điều tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ T cùng toàn bộ tang vật.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói nylon được dán kín bên trong có chứa tinh thể trong suốt tại nền đất có trải lưới gân bên dưới bộ ván gỗ được niêm phong trong bao thư có chữ ký của Đặng Bảo T, Nguyễn Quí T, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn Y, Lê Minh H; 01 điện thoại nokia màu xám xanh; 01 hột quẹt hiệu Zippo.

- 01 đoạn ống nhựa được hàn kín một đầu, một đầu được cắt nhọn trong chậu sành.

- 01 kéo loại cắt chỉ có cán màu đỏ, 01 quẹt gas trong giỏ bội xe cạnh chậu sành.

- 01 hộp nhựa màu trắng cạnh chậu sành, bên trong có một bộ dụng cụ sử

2

dụng ma túy gồm bình nhựa, nỏ, đoạn ống nhựa, 03 gói nylon đã qua sử dụng, 04 đoạn ống nhựa; 02 quẹt gas đã bị hư đầu.

- 01 chai gas đã qua sử dụng tại góc bộ ván gỗ.

- 01 đoạn kim loại được gắn khoanh nhựa.

Kết luận giám định số 440/KLGĐ-PC09 ngày 23/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh V kết luận: Mẫu tinh thể trong suốt bên trong 01 gói nylon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,7765g, loại methamphetamine.

Sau giám định, hoàn lại mẫu tinh thể có khối lượng 0,6009g methamphetamine kèm vỏ bao gói, toàn bộ mẫu vật được để trong phong bì niêm phong số 440/KLGĐ-PC09.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21/7/2019, T cùng Nguyễn Quí T, sinh ngày 30/3/2004 thường trú ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T đang ở trại nuôi gà của T tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh T, lúc này có người bạn tên T, không rõ năm sinh, địa chỉ điều khiển xe mô tô không rõ biển số cùng người bạn không rõ họ tên, địa chỉ đến cùng nhau uống rượu, đến khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong có sẵn ma túy để cả nhóm sử dụng, T tiếp tục lấy 01 gói nylon được hàn kín bên trong có chứa ma túy để trong giỏ treo trên xe của T để tiếp tục sử dụng, các gói nylon bên trong có ma túy còn lại T dùng cây kéo cắt ra đổ ma túy dồn vào 01 gói nylon. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 22/7/2019 T và bạn T đi về khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày T điện thoại cho T kêu T cất giữ gói nylon được hàn kín chứa ma túy của T để trong cái rỗ màu đỏ trong trại gà thì T đồng ý. Do sợ bị mất gói nylon chứa ma túy nên T cất gói nylon chứa ma túy trong túi quần Jean ở phía trước bên trái T đang mặc để cất giấu. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày lực lượng Công an đến kiểm tra, lo sợ bị phát hiện tàng trữ trái phép chất ma túy, T lấy gói ma túy trong túi quần cùng 01 hột quẹt hiệu Zippo và 01 điện thoại Nokia ném bỏ xuống ngay vị trí T đang đứng. Lúc này, T nhìn thấy sự việc liền chạy đến định nhặt gói ma túy cất giấu thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Lúc 09 giờ ngày 24/9/2019, Cơ quan điều tra đã tiến hành hỏi cung Đặng Bảo T có ghi hình có âm thanh, được sao chép vào đĩa DVD lưu vào hồ sơ vụ án. Đặng Bảo T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập.

3

Tại bản Cáo trạng số: 79/CT-VKS ngày 21/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Đặng Bảo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh T giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Từ 24 đến 30 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Đối với 01 bao thư niêm phong số 440/KLGĐ-PC09 ngày 23/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh V bên trong có vỏ bao gói và ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,6009g là chất cấm nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

+ 01 hột quẹt hiệu Zippo; 05 đoạn ống nhựa trong đó có 01 đoạn ống nhựa được hàn kín một đầu, một đầu được cắt nhọn; 01 kéo loại cắt chỉ có cán màu đỏ, 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm bình nhựa, nỏ, đoạn ống nhựa; 03 gói nylon đã qua sử dụng; 03 quẹt gas, trong đó 02 quẹt gas đã bị hư đầu; 01 chai gas đã qua sử dụng; 01 đoạn kim loại được gắn khoanh nhựa là công cụ dùng vào việc sử dụng ma túy, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

+ 01 điện thoại nokia màu xám xanh của bị cáo T. Bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo thống nhất với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện

4

chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.

Đối với người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ của người làm chứng nên sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai trong quá trình điều tra của những người vắng mặt.

Về hành vi của bị cáo bị truy tố:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/7/2019, tại trại nuôi gà của bị cáo Đặng Bảo T ở ấp M, xã H, huyện C, tỉnh T, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện C phối hợp cùng Công an xã H, huyện C, tỉnh T bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 0,7765 gam, loại Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo được thể hiện tại: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/7/2019; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và giao nhận đối tượng giám định ngày 22/7/2019; Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Vật chứng thu giữ của bị cáo đã được cân xác định khối lượng là 0,7765 gam ma túy, loại Methamphetamine. Với hành vi bị cáo tàng trữ

5

0,7765 gam Methamphetamine đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) ….Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh T truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, bị cáo không bị oan sai.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ ma túy là chất cấm nhưng bản thân vẫn sử dụng, bị cáo chưa có vợ, con nhưng không chịu tu chí làm ăn tạo thu nhập cho bản thân, lo cho gia đình và giúp ích cho xã hội, khi có bạn bè rủ sử dụng ma túy bản thân không khuyên bạn mà còn sử dụng ma túy. Sau khi bạn để quên ma túy và điện thoại cho bị cáo biết rõ là ma túy nhưng bị cáo vẫn cất giấu trong túi quần. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện một cách cố ý và đã trực tiếp xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của nhà nước về chất ma túy nên cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vào ngày 25/10/2019, mẹ của bị cáo là bà Đỗ Thị B có nộp đơn xin xác nhận ngày 25/10/2019 với nội dung:

“Tôi tên Đặng Văn H, sinh ngày 12/4/1968 cư ngụ xã H, xã H, huyện C, tỉnh T.

6

Nay tôi viết đơn kính đến UBND xã T, xác nhận ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1921 đã từ trần là người đã có công trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng huy hiệu 45 năm tuổi Đảng là ông ngoại của tôi, để tôi bổ sung hồ sơ học tập cho con tôi.

Rất mong sự giúp đỡ của chính quyền tôi thành thật biết ơn.”

Theo quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã hướng dẫn tình tiết:

“c- Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án". Theo các văn bản hướng dẫn trước đây của Toà án nhân dân tối cao và của Toà án nhân dân tối cao với các cơ quan hữu quan khác cũng như thực tiễn xét xử trong thời gian qua, thì các tình tiết sau đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác:

- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước:

- Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột là liệt sỹ;”

Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mang lại những hậu quả rất xấu cho xã hội và việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, các cơ quan bảo vệ pháp luật đang tấn công và xử lý rất nghiêm khắc các loại tội phạm về ma tuý, toàn thể cộng đồng đang đấu tranh mạnh mẽ để loại trừ tệ nạn về ma tuý ra khỏi đời sống xã hội, nhằm bảo vệ hạnh phúc cho từng gia đình và mỗi con người. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

7

Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, song xét thấy bị cáo thu nhập không ổn định và ma túy bị cáo có sử dụng không phải do bị cáo mua. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Gồm có:

01 bao thư niêm phong số 440/KLGĐ-PC09 ngày 23/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh V bên trong có vỏ bao gói và ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,6009g là chất cấm nên cần tịch thu để hủy.

01 hột quẹt hiệu Zippo; 05 đoạn ống nhựa trong đó có 01 đoạn ống nhựa được hàn kín một đầu, một đầu được cắt nhọn; 01 kéo loại cắt chỉ có cán màu đỏ, 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm bình nhựa, nỏ, đoạn ống nhựa; 03 gói nylon đã qua sử dụng; 03 quẹt gas, trong đó 02 quẹt gas đã bị hư đầu; 01 chai gas đã qua sử dụng; 01 đoạn kim loại được gắn khoanh nhựa là công cụ dùng vào việc sử dụng ma túy, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại nokia màu xám xanh của bị cáo T. Bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên xét thấy cần bị tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:

Ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản truy tố, mức hình phạt và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các vấn đề khác:

Đối với người tên T và người bạn đi cùng do chưa rõ họ tên, địa chỉ Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Quí T, qua điều tra xác định chưa đủ 16 tuổi, hiện tại không có mặt tại địa phương không rõ ở đâu, Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, sẽ xử lý sau.

8

Về án phí:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Bảo T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 22/7/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 bao thư niêm phong số 440/KLGĐ-PC09 ngày 23/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh V bên trong có vỏ bao gói và ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,6009g; 01 hột quẹt hiệu Zippo; 05 đoạn ống nhựa trong đó có 01 đoạn ống nhựa được hàn kín một đầu, một đầu được cắt nhọn; 01 kéo loại cắt chỉ có cán màu đỏ, 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm bình nhựa, nỏ, đoạn ống nhựa; 03 gói nylon đã qua sử dụng; 03 quẹt gas, trong đó 02 quẹt gas đã bị hư đầu; 01 chai gas đã qua sử dụng; 01 đoạn kim loại được gắn khoanh nhựa.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nokia màu xám xanh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/10/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện C).

3. Về án phí:

9

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Bảo T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/11/2019) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh T xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ