- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị La Thị T được ly hôn với anh Trần Văn V;"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị La Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 78/2019/HNGĐ-ST Ngày: 15 tháng 10 năm 2019 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Quyên;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lộc Văn Bậu và ông Doãn Đức Hùng
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Duy Mạnh - Thẩm tra viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Phạm Hữu Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 417/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2019/QĐXXST - HNGĐ, ngày 11 tháng 9 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số: 111/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị La Thị T, sinh năm 1995. (Xin vắng mặt)
Trú tại: Ấp 3, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai;
- Bị đơn: Anh Trần Văn V, sinh năm 1987. (Vắng mặt)
Trú tại: Ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị La Thị T trình bày:
Chị và anh Trần Văn V tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 03/4/2014.
Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn V là do cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, vợ chồng không tin tưởng nhau về mặt tình cảm nên thường xuyên xảy ra xung đột, cãi vã. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả. Chị và anh V đã sống ly thân được 02 năm, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Hiện tại tình cảm của chị dành cho anh V không còn nên chị cương quyết yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn V.
Về con chung: Chị và anh V không có con chung;
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị cam kết vợ chồng không có nợ chung.
Ngoài ra, chị không có yêu cầu nào khác.
* Trong suốt quá trình tố tụng anh Trần Văn V không đồng ý ký nhận văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt, không có ý kiến trình bày và vắng mặt không có lý do. Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh V theo quy định pháp luật;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng;
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị La Thị T. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị T được ly hôn với anh V. Về con chung: Chị T khai không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự: Chị La Thị T khởi kiện về việc “Ly hôn” đối với bị đơn là anh Trần Văn V, cư trú tại: Ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật cho anh V. Tuy nhiên, anh V vẫn cố tình vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa mà không có lý do; mặt khác chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 22, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh anh V, chị T là có căn cứ.
Về nội dung vụ án:
2.1. Quan hệ hôn nhân giữa chị La Thị T và anh Trần Văn V là hợp pháp, vì kết hôn tự nguyện, được UBND có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.
2.2. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T thì thấy: Trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử T cương quyết xin ly hôn với anh V vì giữa chị và anh V phát sinh nhiều mâu thuẫn, chị không còn tình cảm với anh V nữa và thực tế anh, chị đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Hơn nữa, anh V không đến Tòa án làm việc chứng tỏ không có thiện chí hàn gắn mâu thuẫn gia đình, anh V bế tắc không thuyết phục được chị T trở về đoàn tụ, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn biện pháp khắc phục. Xét thấy mục đích của hôn nhân và gia đình là sự gắn kết bằng tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, tôn trọng và tin tưởng nhau, trong khi đó hôn nhân của chị T và anh V không có hạnh phúc, không có sự quan tâm, chăm sóc, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình đã vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng và thực tế đã sống ly thân. Do vậy, căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp thuận cho chị T được ly hôn với anh V.
2.3 Về con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.4. Về tài sản chung: Không tranh chấp; Nợ chung: không có.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị nêu trên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; 227, Điều 228; Điều 238; Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị La Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị La Thị T được ly hôn với anh Trần Văn V;
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị La Thị T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên lai thu số 0006746 ngày 29 tháng 5 năm 2019. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Trảng Bom; - UBND xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (GCNKH số 49; quyển số:01/2014); - Chi cục T.H.A.DS huyện Trảng Bom; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Quyên |