vanban.org

Bản án 78/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 23/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ngô Thị Thu H 33 (Ba ba) tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21-11-2017. Phạt tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đối với bị cáo Ngô Thị Thu H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị Thu H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2018/HSST
Ngày: 23-3-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Anh.

Ông Nguyễn Văn Quỹ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Việt Bằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 23-3-2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2018/TLST-HS ngày 12-02-2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2018/QĐXXST-HS ngày 09-3-2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Thị Thu H, sinh năm 1994, tại thành phố N.

Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 15/157 đường V, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Ngô Tiến M và bà An Thị Y; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21-11-2017, sau chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định.

Bị cáo Ngô Thị Thu H có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19-11-2017 Ngô Thị Thu H đi bộ từ nhà đến khu vực đường T gặp và mua của một người đàn ông (Không rõ lai lịch) 01 gói ma túy heroin với giá 120.000 đồng và cất số ma túy vào người đi về nhà để bán kiếm lời. Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 20-11-2017, Trần Việt H, sinh năm 1966 trú tại 104 đường Đ, thành phố N gọi điện thoại cho H hỏi mua 01 gói ma túy heroin với giá 150.000 đồng. H đồng ý, hẹn H ra đầu ngõ 31 đường T, khi H vừa nhận tiền và vừa giao ma túy cho H thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N phát hiện, bắt quả tang. Quá trình kiểm tra, tổ công tác thu giữ trên tay phải của H gói nilon bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, H khai là ma túy heroin vừa mua của H về để sử dụng (Tổ công tác niêm phong gói ma túy heroin thu giữ của H ký hiệu M); thu giữ trên tay phải của H 150.000 đồng, H khai là tiền vừa bán ma túy cho H. Ngoài ra còn thu giữ của H 01 điện thoại di động Q-Mobile màu đen, đồng thời đưa H và H về trụ sở Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại số 15/157 đường V, phường N, thành phố N. Quá trình khám xét, An Thị Y là mẹ đẻ của H đã tự giác lấy từ giường ngủ tầng hai 01 túi nilon màu đen bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, Y khai là ma túy heroin cất giấu với mục đích bán kiếm lời giao nộp cho tổ công tác (Tổ công tác niêm phong gói ma túy heroin thu giữ của Y ký hiệu M1). Ngoài ra còn thu giữ trên mặt bàn uống nước tại tầng một 01 điện thoại di động Nokia màu tím, Y và H đều khai nhận là điện thoại của H.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trưng cầu giám định vật chứng thu giữ của Trần Việt H và An Thị Y. Tại bản kết luận giám định số 907/GĐKTHS ngày 24-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M và M1 đều là chất ma túy, loại ma túy heroin, khối lượng của M là 0,011 gam, khối lượng của M1 là 113,134 gam.

Bản cáo trạng số 81/QĐ-KSĐT ngày 12-02-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Ngô Thị Thu H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận: Bị cáo biết rõ hành vi mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì mục đích kiếm lời nên đã đi mua 01 gói ma túy về bán lại để kiếm lời, bị cáo thừa nhận đã bán cho Trần Việt H 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng. Đối với số ma túy thu giữ tại nơi ở của H, H khai không phải của H và cũng không biết là của ai. Điện thoại di động Nokia màu tím, bị cáo khai dùng để liên lạc bán ma túy cho H.

Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo trực tiếp bán cho Trần Việt H 01 gói ma túy với giá 150.000 đồng nhằm kiếm lời. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999: Phạt bị cáo Ngô Thị Thu H từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù giam. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ năm triệu đồng đến bẩy triệu đồng.

- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: Tịch thu tiêu hủy số ma tuý đã thu giữ của Trần Việt H; số tiền 150.000 đồng do phạm tội mà có của bị cáo và 01 điện thoại di động Nokia màu tím là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo trở thành người lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố NamĐịnh, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Thị Thu H đã được chứng minh bằng lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của những người làm chứng; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; biên bản mở niêm phong vật chứng và bản kết luận giám định số 907/GĐKTHS ngày 24-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 20-11-2017, bị cáo đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, loại ma túy heroin, khối lượng 0,011 gam với giá 150.000 đồng cho Trần Việt H với mục đích bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt giữ quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, làm lan tràn tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi bán ma túy heroin nhằm mục đích kiếm lời bất chính là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm minh đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng ...”. Xét thấy, bị cáo mua bán ma túy nhằm mục đích kiếm lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Trần Việt H có hành vi mua ma túy để sử dụng, xét hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Công an thành phố N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Trần Việt H về hành vi này và trả lại 01 điện thoại di động Q-Mobile màu đen tạm giữ của H là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Ngô Thị Thu H, Cơ quan điều tra Công an thành phố N đang xác minh nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán kiếm lời của An Thị Y đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N khởi tố điều tra trong một vụ án khác là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003: Số ma túy thu giữ của Trần Việt H là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; số tiền 150.000 đồng do bị cáo H phạm tội mà có và 01 điện thoại di động Nokia màu tím là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí hình sự: Bị cáo Ngô Thị Thu H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999:

- Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thu H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Ngô Thị Thu H 33 (Ba ba) tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21-11-2017.

Căn cứ khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999:

- Phạt tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đối với bị cáo Ngô Thị Thu H.

2. Xử lý vật chứng, tài sản:

Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Trần Việt H; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 150.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia màu tím của bị cáo Ngô Thị Thu H.

Số vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09-02-2018 giữa Công an thành phố N với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N.

3. Án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14: Bị cáo Ngô Thị Thu H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo Ngô Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ