- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 78/2018/HS-ST Ngày 16 tháng 5 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Đỗ Thị Hà.
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thanh Hải
2. Ông Phạm Đức Toàn
- Thư ký phiên tòa:
Ông Lê Tiến Thành – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Tô Hồng Thái – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành ph ố Thái Bình , tỉnh Thái Bình , xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2018/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2018 đố i vớ i bị cá o:
Nguyễn Xuân H – Sinh ngày 13/01/1982; Nơi cư trú: Số nhà 26/5, Ngõ 98, đường H, Tổ 17, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 09/HSPT ngày 27/3/2001, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; Năm 2004, bị Công an thành phố Thái Bình xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 25/2004/HSST ngày 17/9/2004, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản’; Bản án số 85/2005/HSST ngày 10/6/2005, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Năm 2007 bị Công an thành phố Thái bình xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 125/2007/HSST ngày 17/9/2007, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 89/2010/HSST ngày 26/7/2010, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 15/2015/HSST ngày 05/02/2015, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thi hành xong hình phạt tù ngày 02/8/2015, thi hành xong án phí ngày 09/7/2015; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/3/2018 đến ngày 08/3/2018 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người chứng kiến:
1. Ông Bùi Gia T, sinh năm 1950
Nơi cư trú: Số 26/05, Tổ 26, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
2. Ông Đào Văn M, sinh năm 1948
Nơi cư trú: Số nhà 63, đường T, Tổ 36, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(Ông T, ông M đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/3/2018, Nguyễn Xuân H đi bộ từ nhà vào chợ Quang Trung thuộc Tổ 50, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 300.000 đồng được 03 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa ma túy đá, sau đó đi tìm chỗ để sử dụng cho bản thân. Khi bị cáo đi đến trước cổng số 2 chợ Quang Trung thì bị phát hiện, bắt giữ. Trước sự chứng kiến của ông Bùi Gia T và ông Đào Văn M, H tự giác lấy từ túi quần hậu bên phải của mình ra một chiếc ví giả da màu đen và lấy từ trong ngăn ví ra 03 túi nilon màu trắng giao nộp cho lực lượng công an, H khai nhận đó là ma túy đá H vừa mua để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an khám xét người bị cáo còn thu giữ, quản lý của bị cáo 01 chiếc ví giả da màu đen và 42.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số76/KLGĐ-PC54 ngày 05/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kế t luậ n: “Mẫu gửi giám định thu của Nguyễn Xuân H là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4551 gam”.
Bản cáo trạng số 79/CT-VKSTP ngà y 26 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tộ i “Tàng trữ trái phép chấ t ma tú y” theoĐiểm c Khoản 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân H khai: Do bị nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/3/2018, H đã vào chợ Quang Trung thuộc Tổ 50, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Bị cáo đã gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 03 gói Methamphetamine với giá 300.000 đồng, sau khi mua xong đang đi tìm chỗ để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Về hình phạt: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2018. Do bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; Trả lại bị cáo 01 chiếc ví giả da màu đen và số tiền 42.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra và truy tố cũng như tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/3/2018, Nguyễn Xuân H có hành vi mua 03 gói ma túy của một người phụ nữ không quen biết trong chợ Quang Trung với giá 300.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân. Loại ma túy bị cáo tàng trữ là Methamphetamine với khối lượng là 0,4551 gam. Nhận thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, đi ngược lại với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý phạm tội. Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý, niêm phong vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã có 06 bản án xử phạt bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, cải tạo bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, do vậy cần phải xử phạt với mức án nghiêm khắc, để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Xuân H khai báo thành khẩn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vậ t chứ ng của vụ án: Theo quy định tại Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vậ t thuộ c loạ i Nhà nướ c cấ m tàng trữ, mua bán nên cầ n tị ch thu tiêu hủ y ; 01 chiếc ví giả da màu đen và số tiền 42.000 đồng không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được người bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Xuân H nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾ T ĐỊ NH
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
1. Tuyên bố : Bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tú y” .
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/3/2018.
3. Về xử lý vậ t chứ ng : Tịch thu toàn b ộ số ma túy hoàn trả sau giám định chứa trong phong bì niêm phong vật chứng số 76/KLGĐ-PC54 để tiêu hủ y; Trả lại bị cáo Nguyễn Xuân H 01 chiếc ví giả da màu đen và số tiền 42.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng trên có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng đã được chuyển đến Chi cụ c Thi hành án dân s ự thành phố Thái Bình và Biên lai thu tiền số 0001244 ngày 27/4/2018).
4. Về á n phí : Bị cáo Nguyễn Xuân H phải nộp 200.000 đồ ng á n phí hì nh sự sơ thẩ m.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Xuân H có quyền kháng cá o trong thờ i hạ n 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩ m 16/5/2018.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
| - Ngườ i tham gia tố tụ ng; - VKSND TP. Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Chi cụ c THADS TP.Thái Bình; - Cơ quan điều tra CATP Thái Bình; - Cơ quan Thi hành án hình sự CATP Thái Bình; - UBND phường L; - Nhà tạm giữ CATP Thái Bình - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘ I ĐỒ NG XÉ T XƢ̉ SƠ THẨ M Thẩ m phá n – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Hà |