vanban.org

Bản án 78/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 04/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Trần Quốc D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy và trả lại bị cáo 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone cũ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29-3-2018. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 78/2018/HS-ST Tuyên án 04/06/2018
Phúc thẩm Bản án 58/2018/HS-PT Tuyên án 31/07/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Trần Quốc D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2018/HS-ST
Ngày 04-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, TP HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Sợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Tân

Bà Phạm Thị Bích Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Trúc Quỳnh, Thư ký TAND Quận Lê Chân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở Toà án nhân dân Quận Lê Chân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Quốc D, sinh ngày 20-02-1994 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số 67/414 T, phường H, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Quốc T và bà Nguyễn Thị H; có vợ Bùi Thanh G, chưa có con.Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; tạm giữ ngày 19-12-2017, đến ngày 26-12-2017 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 12h00’ ngày 19-12-2017, Phòng cảnh sát điều tra về ma túy, Công an thành phố Hải Phòng kết hợp với tổ công tác Công an phường Hồ Nam, quận Lê Chân, Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát địa bàn phát hiện Trần Quốc D đang điều khiển xe moto biển kiểm soát 15B2-180.44 đến khu vực trước cửa nhà số 10/14 L, phường H, quận L, Hải Phòng có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra thu giữ tại túi áo khoác bên phải của D 01 túi nilon kích thước 5x10cm, bên trong có 04 gói nilon kích thước 3x3cm chứa chất tinh thể màu trắng nghi ma túy tổng hợp. D bị dẫn giải về trụ sở Công an phường cùng vật chứng để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của D 01 xe moto biển kiểm soát 15B2-180.44 và 02 điện thoại nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng.

Bản Kết luận giám định số 1168/PC54 (MT) ngày 25-12-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 04 túi nilon thu giữ của D cân nặng 3,3358 gam là loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Trần Quốc D khai nhận: do nghiện ma túy nên khoảng 11h ngày 19-12-2017, D điều khiển xe moto biển kiểm soát 15B2-180.44 đến khu vực đường tàu, cuối ngõ 380 T, quận L, Hải Phòng mua của 1 nam giới tên Nam (chưa rõ căn cước, lai lịch) 04 gói ma túy tổng hợp được để trong một túi nilon với giá 1.500.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được số ma túy trên, D cất vào túi áo khoác bên phải và đi đến khu vực trước cửa nhà số 10/14 Lâm Tường thì bị bắt giữ cùng vật chứng.

Đối với chiếc xe moto biển kiểm soát 15B2-180.44, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là ông Trần Quốc T, sinh năm 1966; cư trú: số 67/414 T, phường H, quận L, Hải Phòng. Khi D mượn xe, ông Thành không biết D sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại cho ông Thành.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai nhận như nội dung nêu trên.

Bản Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 28-3-2018, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Trần Quốc D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (tương ứng với khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999).

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà luận tội bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46- Bộ luật Hình sự năm 1999 xử bị cáo Trần Quốc D mức án từ 30 đến 36 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng đã thu giữ và trả bị cáo hai điện thoại di động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Hồi 12h00’ ngày 19-12-2017, Trần Quốc D đã có hành vi cất giữ trái phép 04 gói nilon chứa 3,3358 gam là loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt giữ tại khu vực trước cửa nhà số 10/14 L, phường H, quận L, Hải Phòng; nên đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (điều luật tương ứng) có khung hình phạt nhẹ hơn nên được áp dụng để lượng hình theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy cần xử bị cáo mức án nghiêm bắt cách ly xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo, để bị cáo cai nghiện và phòng ngừa chung.

. Song cũng xét bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

.Về xử lý vật chứng: Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29-3-2018 thì vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau giám định và 02 điện thoại nhãn hiệu Iphone. Xét phong bì đựng vật cấm tàng trữ,lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; đối với 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone đã cũ là tài sản của bị cáo nên trả lại bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Trần Quốc D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, trừ cho bị cáo ngày tạm giữ từ ngày 19-12-2017 đến ngày 26-12-2017.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy và trả lại bị cáo 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone cũ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29-3-2018.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ