vanban.org

Bản án 78/2017/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 18/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên ố các ị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đức C phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Phan Huy P phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xử phạt ị cáo Nguyễn Văn H 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị ắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/4/2017. Xử phạt ị cáo Nguyễn Đức C 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị ắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/4/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H và đồng bọn phạm tội "Mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên ố các ị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đức C phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Phan Huy P phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 20 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2017/HSST
Ngày 18/8/2017

NHÂN DANH

N C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N TỈNH NGHỆ AN

i thành phần H i ng t sơ th g c :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phạm Hồng Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Đường

Ông Nguyễn Văn Lý

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Vân Hà. Kiểm sát viên

Ngày 18/8/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2017/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2017, đối với các ị cáo:

1. Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/4/1982; Nơi ĐKHKTT: Xóm 2, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở: Khối 4, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị L; Anh, chị, em ruột: Có 07 người, ị cáo là con thứ 2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo ị ắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2017 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Đức C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/12/1992; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm C, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Đình T và à Hồ Thị N; Anh, chị, em ruột: Có 03 người, ị cáo là con thứ 3; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo ị ắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2017 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

3. Phan Huy P; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03/3/1985; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Phan Đình L và bà Phan Thị Th; Anh, chị, em ruột: Có 04 người, ị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị T; Con: có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; ị cáo ị ắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2017 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đức C, Phan Huy P bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Đầu tháng 3/2017, Nguyễn Văn H đến huyện V, tỉnh Hà Tĩnh thì gặp một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), anh ta nói với H có ai mua hồng phiến thì nói lại với anh ta, án được thì anh ta sẽ cho tiền hoa hồng, Hải đồng ý. Ngày 27/3/2017, có người gọi điện thoại cho Nguyễn Đức C hỏi mua ma túy, C gọi điện thoại cho H hỏi: “Anh có hồng phiến không, giá 01 gói là ao nhiêu, một người ạn ở thành phố V rất cần”. H trả lời: “Để anh hỏi đã”. Sau đó, H gọi điện cho người đàn ông ở huyện V hỏi: “Có hồng phiến không, giá ao nhiêu”. Anh ta trả lời: “Có” và nói: “01 gói (200 viên) giá 10.000.000 đ (Mười triệu đồng). H đã thông áo cho C giá như trên. C nói cho số điện thoại của H cho ạn của C để liên lạc, H đồng ý. Cùng ngày có người phụ nữ giới thiệu tên H ( ạn của C) gọi điện cho H hỏi giá cả thế nào. H trả lời: “10.000.000 đồng/gói ma túy”, sau đó hai người hẹn gặp nhau để trao đổi việc mua án ma túy, đến khoảng trưa ngày 31/3/2017, Nguyễn Văn H và người phụ nữ tên H gặp nhau ở ngã tư đường Hồ Chí Minh thuộc huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Tại đây, người phụ nữ đặt mua của Hải 07 gói hồng phiến với giá 70.000.000 đ (Bảy mươi triệu đồng) và nói H đưa ma túy xuống thành phố Vinh cho chị ta, H nói không đưa đi, thì người phụ nữ tên H nói: “Cứ có hàng rồi tính tiếp”. Sau đó, H gọi điện cho người đàn ông ở huyện V nói có khách ở Vinh đặt mua 07 gói hồng phiến, ao giờ họ lấy thì sẽ điện thoại cho anh ta mang ma túy đến. Đến 10 giờ ngày 01/4/2017, người phụ nữ điện thoại cho Nguyễn Văn H nói đưa ma túy đến thành phố Vinh cho chị ta, H không đồng ý nên người phụ nữ điện thoại cho Nguyễn Đức C nói C đưa 07 gói ma túy đến thành phố Vinh thì chị ta trả 7.000.000 đ (Bảy triệu đồng) tiền công, C đồng ý. Sau đó, người phụ nữ đó điện thoại cho H ảo chuẩn ị ma túy, C sẽ đưa ma túy xuống thành phố Vinh giao cho chị ta, H đi cùng để lấy tiền, H đồng ý. Sau đó, H điện thoại cho người đàn ông ở huyện V đưa 07 gói hồng phiến đến, qua thỏa thuận anh ta đưa ma túy đến chân ờ tường sát cổng nhà trọ của H, sau khi án được ma túy anh ta sẽ chia cho H 10.000.000 đ (Mười triệu đồng) tiền hoa hồng. H gọi điện cho C nói C đến phòng trọ của H lấy ma túy để đưa đi nhưng C lưỡng lự phải đi một mình nên H nói với C: “Để anh nói với ạn của anh chở em đi”, C đồng ý. H gọi điện cho Phan Huy P nói: “Đến phòng trọ của anh chở thằng em đưa “hàng” xuống cho à chị”, P đồng ý. Khoảng 10 phút sau, P đến phòng trọ của H và cùng chở C. Sau khi Chuyên đến, H ra cổng lấy gói ma túy rồi đưa cho C cất giữ và nói với C và P đưa số ma túy này đến giao cho người phụ nữ tên H, chị ta sẽ trả cho hai người 7.000.000 đ tiền công. H nói với P chở C đi trước, còn H đi sau, khi đến thành phố V thì H sẽ liên lạc. Khoảng hơn 14 giờ 30 phút cùng ngày, H đến thành phố Vinh gặp người phụ nữ tên H ở tại nhà nghỉ B thuộc khối 1, phường T, thành phố V để àn ạc mua án ma túy. Thống nhất xong giá cả, H đi ra ngoài gọi điện cho C mang hồng phiến đến, một lúc sau C và P đi đến sảnh nhà nghỉ B thì ị công an ắt quả tang cùng với tang vật là 02 gói nilon màu đen, ên trong có 07 gói nilon màu xanh chứa các viên nén màu hồng trên ề mặt mỗi viên có chữ WY (nghi ma túy tổng hợp). Cùng ngày, Công an thành phố V tiến hành ắt khẩn cấp đối với Nguyễn Văn H.

Tại ản kết luận giám định số 400/KL-PC54 (MT) ngày 04/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:

“Mẫu các viên nén hình tròn màu hồng (07 mẫu, ký hiệu từ M1 đến M7) thu giữ của Nguyễn Đức C và Phan Huy P gửi đến giám định đều là ma túy tổng hợp (methamphetamine). Số viên ma nén hình tròn màu hồng (07 gói) thu giữ của Nguyễn Đức C và Phan Huy P có tổng trọng lượng 134,025 g (Một trăm ba mươi tư phẩy không trăm hai mươi lăm gam)”.

Bản cáo trạng số 96/CT/VKS-P1 ngày 25 tháng 7 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Đức C về tội: “ Mua án trái phép chất ma túy” và ị cáo Phan Huy P về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 3 điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX xử phạt ị cáo các ị cáo như sau:

Áp dụng điểm e khoản 3 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự. Xử phạt ị cáo Nguyễn Văn H từ 15 đến 16 năm tù. Xử phạt Nguyễn Đức C từ 15 đến 16 năm tù cùng về tội “ Mua án trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày ị ắt tạm giữ, tạm giam các ị cáo.

Áp dụng điểm e khoản 3 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46, Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt ị cáo Phan Huy P 15 năm tù về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày ị ắt tạm giữ, tạm giam.

Đề nghị xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy toàn ộ số ma túy thu giữ của các ị cáo.

Tịch thu, hóa giá để sung quỹ Nhà nước đối với 04 chiếc điện thoại thu giữ của các ị cáo có liên quan đến tội phạm. Trả lại cho ị cáo Nguyễn Văn H 01 điện thoại hiệu Samsung màu vàng, IMEI 353002/07/481433/5 không liên quan đến tội phạm.

Hình phạt ổ sung: Các ị cáo chưa thu lợi, hoàn cảnh khó khăn nên không phạt tiền ổ sung.

Tranh luận: Các ị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đức C và Phan Huy P không có ý kiến tranh luận về tội danh và hình phạt. Các ị cáo chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các ị cáo.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa, các ị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đức C và Phan Huy P khai nhận và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các ị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với iên ản ắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ cùng các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Ngày 27/3/2017, do có sự giới thiệu của Nguyễn Đức C nên người phụ nữ tên H liên lạc với Nguyễn Văn H đặt mua 07 gói ma túy tổng hợp dạng hồng phiến. Ngày 01/4/2017, Nguyễn Văn H đã mua của một người đàn ông ở huyện V, Hà Tĩnh 07 gói ma túy tổng hợp, sau đó Hải giao ma túy cho C và gọi P đến để chở C đưa ma túy xuống thành phố Vinh giao cho người phụ nữ tên H. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/4/2017, khi Chuyên và Phương đến nhà nghỉ B thuộc khối 1, phường T, thành phố V để giao ma túy thì ị Công an thành phố Vinh ắt quả tang thu giữ 134,025 gam ma túy tổng hợp methamphetamine. Hội đồng xét xử kết luận các ị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Đức C phạm tội “Mua án trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 3 điều 194 Bộ luật hình sự; ị cáo Phan Huy P phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 3 điều 194 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các ị cáo đã xâm phạm sự độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù các ị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy cũng như việc quy định pháp luật xử lý nghiêm đối với các hành vi phạm tội về ma túy nhưng do hám lợi nên các ị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua án, vận chuyển trái phép chất ma túy. Do đó cần phải lên các cho ị cáo mức án nghiêm khắc, để giáo dục các ị cáo trở thành người có ích cho xã hội và để răn đe, phòng ngừa chung.

Xét tính chất, vai trò, hành vi của các ị cáo trong vụ án thấy rằng: Đây là vụ án có đồng phạm, nhưng mang tính chất giản đơn. Trong đó, ị cáo Nguyễn Văn H là chủ mưu, cầm đầu trong việc mua ma túy để án kiếm lời, ị cáo là người trực tiếp mua ma túy để án, gặp người mua để trao đổi giá cả và địa điểm giao nhận ma túy, chỉ đạo ị cáo Phương chở ị cáo Chuyên đi giao ma túy, nên ị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Đối với ị cáo Nguyễn Đức C là người có vai trò giới thiệu để ị cáo Hải và người phụ nữ tên Hải thực hiện việc mua bán ma túy, ị cáo iết rõ hành vi và mục đích mua án ma túy của ị cáo Hải và trực tiếp nhận ma túy từ ị cáo Hải đưa đi án để hưởng lợi, nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm với Nguyễn Văn H về hành vi mua án 134,025 gam ma túy tổng hợp. Đối với ị cáo Phan Huy P tuy không tham gia àn ạc, môi giới trong việc mua án ma túy của Nguyễn Văn H, Nguyễn Đức C và người phụ nữ tên Hải ở thành phố Vinh, nhưng khi ị cáo Hải nói chở Chuyên đi giao ma túy để được hưởng lợi 3,5 triệu đồng thì ị cáo đã tích cực thực hiện nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là đúng pháp luật, ị cáo lần đầu phạm tội, vai trò, tính chất và hành vi phạm tội ít nguy hiểm hơn các ị cáo khác, nên cần xử phạt ị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng răn đe đối với ị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cho các ị cáo: Các ị cáo không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay các ị cáo khai áo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các ị cáo.

Về hình phạt ổ sung: các ị cáo chưa thu lợi ất chính từ việc mua án và vận chuyển trái phép chất ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình các ị cáo khó khăn nên miễn hình phạt ổ sung cho các ị cáo.

Về vật chứng: Methamphetamin là chất Nhà nước cầm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy 134, 025 gam methamphetamine( đã lấy 6,16 gam mang đi giám định); 04 điện thoại di động là công cụ phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước; Đối với 01 chiếc điện thoại di động Samsung thu giữ tại nơi ở của ị cáo Nguyễn Văn H không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho ị cáo.

Đối với người đàn ông đã án ma túy cho ị cáo Hải và người phụ nữ tên Hải hiện nay Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ khởi tố, khi nào có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đức C và Phan Huy P phải nộp tiền án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên ố các ị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đức C phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Phan Huy P phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự.

Xử phạt ị cáo Nguyễn Văn H 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị ắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/4/2017.

Xử phạt ị cáo Nguyễn Đức C 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị ắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/4/2017.

Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt ị cáo Phan Huy P 13 (Mười a) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị ắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/4/2017.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 134, 025 gam methamphetamine ( đã lấy 6,16 gam mang đi giám định); tịch thu, hóa giá để sung công quỹ Nhà nước đối với 04 điện thoại di động thu giữ của các ị cáo.

Trả lại 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng cho ị cáo Nguyễn Văn H.

Đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên ản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Nghệ An và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

Về án phí: Buộc các ị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đức C và Phan Huy P mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử có mặt các ị cáo, áo cho các ị cáo iết có quyền kháng cáo Bản án lên Toà nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ