vanban.org

Bản án 78/2017/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hưng Yên Tuyên án 13/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H (tên gọi khác là Nguyễn Văn H) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Áp dụng Điểm h Khoản 2 Điều 194; Điều 33; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, năm 1999. Khoản 3 Điều 7; Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt: Nguyễn Minh H (tên gọi khác là Nguyễn Văn H) 06 (sáu) năm t , … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm số 78 ngày 13/11/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đối với bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội Tàng Trữ trái phép chất…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H (tên gọi khác là Nguyễn Văn H) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2017/HS-ST
Ngày 13 - 11 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Đình Lực.

Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Vũ Văn Chiếm và ông Đào Ngọc Khải.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Thư ký Toà án Nhân dân tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Đào Đức Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Ân Thi. Tòa án Nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2017/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2017. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2017/HSST - QĐ ngày 30 tháng 10 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh H (tên gọi khác là Nguyễn Văn H), sinh năm 1973; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B H, xã Q L, huyện  Th, tỉnh HY; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh M và bà Bùi Thị Ng; Có vợ là Hoàng Thị L; Có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị bắt tạm giữ ngày 25/7/2017, tạm giam ngày 28/7/2017, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Minh M, sinh năm 1948. Địa chỉ: Thôn B H, xã Q L, huyện  Th, tỉnh HY (có mặt tại phiên tòa).

* Những người làm chứng:

Ông Lê Anh T, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn K B, xã V D, huyện  Th, tỉnh HY (vắng mặt tại phiên tòa).

Ông Lâm Hữu L, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn D M, xã V D, huyện  Th, tỉnh HY (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 25/7/2017, trên đường 376 thuộc thôn K B, xã V D, huyện  Th, tỉnh HY. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên đã bắt quả tang Nguyễn Minh H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ: Tại túi quần H đang mặc 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chất màu trắng dạng cục và bột được niêm phong ghi M1; 01 bao thốc lá Vinataba màu vàng, bên trong có 01 túi nilon chứa 02 cục màu trắng kết tinh, thể rắn, rạng cục và bột được niêm phong ghi M2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh; 01 xe mô tô hiệu Dream, Biển kiểm soát 89C1 - 12838.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của H. Tại Kết luận giám định số 244/PC54 ngày 28/7/2017, Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, đã kết luận: Chất màu trắng dạng bột và cục trong niêm phong ghi M1, M2 là Hêrôin, có trọng lượng lần lượt là 7,5 gam và 0,092 gam.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, H khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 25/7/2017, H có đến nhờ Ngô Văn Th chở đi mua Hêrôin giá rẻ với số lượng lớn về sử dụng, trên đường đi H lên cơn nghiện ma túy, H điện cho Đỗ Văn Đ và bảo Th chở đến nhà Đ để mua một ít ma túy để sử dụng. Đến nhà Đ, H bảo Th dừng xe đợi ở ngoài, H đi vào nhà Đ mua 02 gói Hêrôin hết 400.000đ, H sử dụng hết một gói, còn lại 01 gói H cất vào túi quần rồi ra bảo Th chở đi gặp người bán Hêrôin với số lượng lớn. Th chở H đến khu vực mương nước thuộc khu phố Cống Tráng, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên thì thấy một nam thanh niên khoảng 30 tuổi đội mũ lưỡi trai, bịt khẩu trang, không rõ tên tuổi địa chỉ, H đi bộ xuống hỏi mua 02 chỉ Hêrôin, nam thanh niên nói giá 3.000.000đ, H đưa cho nam thanh niên đó 3.000.000đ thì nam thanh niên đó chỉ H đến vị trí có bao thuốc lá Vinataba rồi bỏ đi luôn, H cầm bao thuốc lá kiểm tra bên trong có 01 túi nilon đựng 02 cục Hêrôin. Sau khi mua được Hêrôin, H cất vào túi quần đang mặc rồi cùng Th đi về, trên đường về H bảo Th vào hiệu thuốc mua xilanh, còn H đứng ngoài chờ, khi Th vào hiệu thuốc, H ở ngoài thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Quá trình điều tra, Th và Đ không có mặt tại địa phương, chính quyền địa phương không biết Th và Đ đi đâu, làm gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã tách hành vi của Th và Đ ra để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với người thanh niên bán ma túy cho H ở khu phố Cống Tráng, H không biết tên, địa chỉ cụ thể nên không đủ thông tin để xác minh, xử lý.

Tại Cáo trạng số 77/QĐ-VKS-P1 ngày 10/10/2017, Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm h Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử, Tuyên bố: Nguyễn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điểm h Khoản 2 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, năm 1999. Khoản 3 Điều 7; Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt: Nguyễn Minh H từ 06 năm đến 07 năm t ; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Minh H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn lăn hối lỗi về việc làm của mình, đề nghị xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Ông Nguyễn Minh M đã nhận lại chiếc xe máy, không có đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hưng Yên; Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Hưng Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của Nguyễn Minh H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Các tài liệu, chứng cứ đó là: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản ảnh vật chứng; Biên bản niêm phong vật chứng; Kết luận giám định, phù hợp lời khai của những người làm chứng là ông Lê Văn T, ông Lâm Hữu L là những người được chứng kiến khi H bị bắt quả tang, cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 25/7/2017, tại đường 376 thuộc thôn K B, xã V D, huyện  Th, tỉnh HY. Nguyễn Minh H đã có hành vi Tàng trữ trái phép 7,592 gam Hêrôin, với mục đích để sử dụng dần thì bị bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi tàng trữ 7,592gam Hêrôin của bị cáo Nguyễn Minh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm h Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã phạm vào tội rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của nhà nước đối với các chất gây nghiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội và sự bất bình trong dư luận nhân dân tại địa phương. Mặt khác, hành vi phạm tội của bị cáo còn là nguyên nhân tạo điều kiện thuận lợi để phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh, cần có một mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo, làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 48 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn nhận tội, ăn năn hối lỗi nên áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, nhẹ hơn so với khung hình phạt tại Điểm h Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Do vậy, khi quyết định hình phạt cần áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 Điều 7 và Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử theo hướng có lợi cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản gì lớn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô Honda Dream, Biển soát 89C1 - 12838, kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của ông Nguyễn Minh M, là bố đẻ của H cho H mượn, ông M không biết H sử dụng xe đi mua ma túy, ngày 13/7/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông M là có căn cứ. Tại phiên tòa ông M xác định đã nhận lại chiếc xe mô tô, không có yêu cầu và đề nghị gì.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh thu giữ của H, quá trình điều tra và tại phiên tòa H khai đã d ng chiếc điện thoại này điện cho Đ để mua Hêroin, nên cần tịch thu cho phát mãi sung quỹ Nhà nước.

Đối với số ma túy là Hêrôin do cơ quan giám định hoàn lại trong 01 phong bì niêm phong; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn nhiệu Vinataba màu vàng không có giá trị sử dụng nên tịch thu, cho tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H (tên gọi khác là Nguyễn Văn H) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Áp dụng Điểm h Khoản 2 Điều 194; Điều 33; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, năm 1999. Khoản 3 Điều 7; Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

Xử phạt: Nguyễn Minh H (tên gọi khác là Nguyễn Văn H) 06 (sáu) năm t , thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 25/7/2017.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu cho phát mãi sung vào công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia màu xanh của bị cáo Nguyễn Minh H.

Tịch thu, cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy do cơ quan giám định hoàn lại trong 01(một) phong bì niêm phong số 244/PC54 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên; 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn nhiệu Vinataba màu vàng.

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 29/QĐ-KSĐT-P1 ngày 10 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Hưng Yên).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh H (tên gọi khác là Nguyễn Văn H) phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi liên quan. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ