vanban.org

Bản án 777/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ly hôn giữa bà Tô Thị Giang Hương và ông Đoàn Tấn Phát.

Về quan hệ con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao trẻ Đoàn Tấn Tài, sinh ngày 19/01/2010; Đoàn Tấn Trí, sinh ngày 03/12/2014 cho bà Tô Thị Giang Hương trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con : Tự thỏa thuận. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ly hôn giữa bà Tô Thị Giang Hương và ông Đoàn Tấn Phát.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 777/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17/10/2019
V/v vụ án ly hôn – mâu thuẫn gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Nam

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly

2. Ông Nguyễn Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thơi – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 515/2019/TLST-HN ngày 23 tháng 7 năm 2019 về việc: “vụ án ly hôn - mâu thuẫn gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Tô Thị Giang Hương, sinh năm 1986

Địa chỉ: 695/9/14 An Dương Vương, phường Bình Trị Đông,

quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

Ông Đoàn Tấn Phát, sinh năm 1977

Địa chỉ: 995/118A/14 Hồng Bàng, Phường 12, Quận 6, Thành

phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/7/2019 cùng các bản tự khai, nguyên đơn bà Tô Thị Giang Hương trình bày:

Bà và ông Đoàn Tấn Phát tự nguyện chung sống từ năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (theo giấy chứng nhận kết hôn số 70, quyển số 01/2008 ngày 13/8/2008). Từ khi kết hôn vợ chồng sống chung tại địa chỉ 995/118A/14 Hồng Bàng, Phường 12, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong thời gian sống chung, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, xuất phát từ việc ông Phát không lo làm ăn, không chăm sóc cho vợ con. Bà đã khuyên can nhiều lần nhưng ông Phát không thay đổi.

Trước đó năm 2018, bà cũng từng nộp đơn yêu cầu ly hôn với ông Phát đến Tòa án nhân dân Quận 6. Quá trình giải quyết vụ án, bà cũng muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình, do đó bà đã rút yêu cầu ly hôn và Tòa án nhân dân Quận 6 đã đình chỉ giải quyết vụ án số 169/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22/3/2018. Tuy nhiên, ông Phát vẫn không thay đổi tính nết, không chăm lo cho gia đình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng.

Vợ chồng sống ly thân với nhau từ tháng 6/2019, bà sống với em ruột tại quận Bình Tân; Ông Phát sống tại Quận 6. Từ khi sống ly thân, hai vợ chồng không qua lại, hỏi han, chăm sóc nhau, không ai quan tâm đến ai.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó bà đề nghị được ly hôn với ông Đoàn Tấn Phát.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Đoàn Tấn Tài, sinh ngày 19/01/2010; Đoàn Tấn Trí, sinh ngày 03/12/2014. Bà đề nghị được trực tiếp nuôi trẻ Đoàn Tấn Tài, sinh năm 2010; Đoàn Tấn Trí, sinh năm 2014. Việc cấp dưỡng nuôi con: tự thỏa thuận.

Tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Tự thỏa thuận.

Tại bản tự khai và biên bản hòa giải, bị đơn ông Đoàn Tấn Phát trình bày:

Ông và bà Tô Thị Giang Hương tự nguyện chung sống từ năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (theo giấy chứng nhận kết hôn số 70, quyển số 01/2008 ngày 13/8/2008).

Cuộc sống vợ chồng không thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tuy vợ chồng có cự cãi nhưng chỉ là những cãi vã nhỏ trong cuộc sống. Nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, con chung còn nhỏ, ông vẫn còn thương vợ con. Do đó, ông không đồng ý ly hôn với bà Tô Thị Giang Hương.

Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Đoàn Tấn Tài, sinh năm 2010; Đoàn Tấn Trí, sinh năm 2014. Do không đồng ý ly hôn với bà Hương, do đó ông không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề con chung. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hương, ông đồng ý giao trẻ Đoàn Tấn Tài, sinh năm 2010; Đoàn Tấn Trí, sinh năm 2014 cho bà Hương trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con: tự thỏa thuận.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng : Tự thỏa thuận;

Tại phiên tòa sơ thẩm

Bà Tô Thị Giang Hương trình bày: trước đó bà đã nộp đơn yêu cầu ly hôn đến Tòa án nhân dân Quận 6, tuy nhiên ông Phát vẫn nhiều lần đánh bà, không sửa đổi tính tình. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, do đó bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ông Đoàn Tấn Phát không đồng ý ly hôn với bà Hương, tuy nhiên bà Hương kiên quyết ly hôn thì ông cũng đồng ý. Ông đề nghị được trực tiếp nuôi 01 đứa con chung, cụ thể là trẻ Đoàn Tấn Tài, sinh năm 2010, bởi ông đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Tài ; việc cấp dưỡng nuôi con: tự thỏa thuận. Về tài sản chung, nợ chung : Tự thỏa thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham dự phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về trình tự thủ tục tố tụng dân sự: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo nguyên tắc xét xử. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà Tô Thị Giang Hương và ông Đoàn Tấn Phát có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Bà Hương, ông Phát có 02 con chung tên Đoàn Tấn Tài, sinh năm 2010; Đoàn Tấn Trí, sinh năm 2014; Quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, bà Hương đã từng nộp đơn ly hôn đến Tòa án nhân dân Quận 6, sau đó rút đơn để vợ chồng hàn gắn, nhưng tình trạng hôn nhân vẫn không được cải thiện. Hiện hai vợ chồng đang sống ly thân. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà Hương xin ly hôn ông Phát là có cơ sở chấp nhận.

Về vấn đề tài sản chung, nợ chung: các bên thống nhất tự thỏa thuận;

Về con chung: ông Đoàn Tấn Phát đề nghị được trực tiếp nuôi trẻ Đoàn Tấn Tài, tuy nhiên tại bản trình bày nguyện vọng ngày 25/7/2019 của trẻ Tài có nguyện vọng được ở với mẹ là bà Tô Thị Giang Hương. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử giao trẻ Đoàn Tấn Tài, trẻ Đoàn Tấn Trí cho bà Tô Thị Giang Hương trực tiếp nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng nuôi con: tự thỏa thuận;

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Hương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, các lời khai, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: “vụ án ly hôn – mâu thuẫn gia đình” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn cư trú tại địa chỉ số 995/118A/14 Hồng Bàng, Phường 12, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: bà Tô Thị Giang Hương và ông Đoàn Tấn Phát quen biết, tự nguyên kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận kết hôn số 70, quyển số 01/2008 ngày 13/8/2008 nên đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà Tô Thị Giang Hương và ông Đoàn Tấn Phát là hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Xét, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nhưng từ năm 2017, ông Phát, bà Hương phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ không quan tâm, chăm sóc nhau, thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, tạo điều kiện cho ông Phát, bà Hương hàn gắn hạnh phúc gia đình, nhưng bà Hương vẫn giữ yêu cầu ly hôn. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng hòa giải để vợ chồng ông Phát, bà Hương đoàn tụ với nhau, nhưng bà Hương giữ yêu cầu của mình, ông Phát cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà Hương.

Qua những phân tích trên cho thấy: Quan hệ vợ chồng giữa bà Hương, ông Phát đã trầm trọng, vợ chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Hương là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Đoàn Tấn Tài, sinh ngày 19/01/2010; Đoàn Tấn Trí, sinh ngày 03/12/2014. Bà Hương đề nghị được trực tiếp nuôi 02 con chung là trẻ Tài, trẻ Trí. Tuy nhiên, ông Đoàn Tấn Phát đề nghị được trực tiếp nuôi 01 con chung, cụ thể là trẻ Đoàn Tấn Tài, bởi trẻ Tài đang ở nhà ông và do ông trực tiếp nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử xét, tại phiên tòa, các đương sự cũng thừa nhận trước đó trẻ Tài sống chung với bà Tô Thị Giang Hương, trẻ Tài chỉ mới về sống chung với ông Phát khoảng 01 tháng; Mặt khác căn cứ vào bản trình bày nguyện vọng ngày 25/7/2019 của trẻ Đoàn Tấn Tài thể hiện muốn được ở với mẹ là bà Tô Thị Giang Hương; Do đó, để tránh việc xáo trộn trong tâm lý của trẻ, Hội đồng xét xử giao trẻ Đoàn Tấn Tài, sinh năm 2010; Đoàn Tấn Trí, sinh năm 2014 cho bà Tô Thị Giang Hương trực tiếp nuôi dưỡng và dành quyền thăm nom cho ông Đoàn Tấn Phát, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hương, ông Phát đề nghị được tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Hương chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 54, Điều 56, Điều 57 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ly hôn giữa bà Tô Thị Giang Hương và ông Đoàn Tấn Phát.

2. Về quan hệ con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao trẻ Đoàn Tấn Tài, sinh ngày 19/01/2010; Đoàn Tấn Trí, sinh ngày 03/12/2014 cho bà Tô Thị Giang Hương trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con : Tự thỏa thuận. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Ông Đoàn Tấn Phát được quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích con chung, khi có yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Tô Thị Giang Hương phải chịu. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà Hương đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/0011413 ngày 23/7/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, bà Tô Thị Giang Hương đã nộp xong án phí sơ thẩm.

5. Giấy chứng nhận kết hôn số 70, quyển số 01/2008 ngày 13/8/2008 do Ủy ban nhân dân xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi cấp hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

6. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ