vanban.org

Bản án 772/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 30/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Điểm b khoản 1 Điều 260; Điều 65; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số: 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử phạt bị cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Án ST số 772- 30.12.2024- Phạm Văn Q- Vi phạm GT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 772/2024/HS-ST
Ngày 30 tháng 12 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Đăng Phong;

Hội thẩm nhân dân:

Bà Công Thị Minh Lợi;

Ông Đinh Văn Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà My, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 30/12/2024, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 582/2024/TLST-HS ngày 17/10/2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 797/2024/QĐXXST-HS ngày 13/12/2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn Q, sinh năm 1998; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh T; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học phổ thông: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Văn Q1 và con bà Nghiêm Thị L; Gia đình có 03 anh em, bị cáo thứ hai; Vợ Phùng Thị Ngọc Á, sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Bị hại: Anh Lê Tất L1, sinh năm 1991; trú tại thôn B, xã H, huyện C, Thành phố H (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 20/02/2020, bị cáo Phạm Văn Q có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu trắng - đen, biển kiểm soát 36G1-297.70 chở chị Phùng Thị Ngọc Á, cả hai có đội mũ bảo hiểm, lưu thông trên đường Quốc lộ 32 theo hướng thị xã S đi cầu T. Đến 10 giờ 36 phút cùng ngày, khi bị cáo đi đến đoạn đường có cột đèn tín hiệu tại km 44+200 Quốc lộ C đối diện nhà số A, đường P, phường P, thị xã S, Thành phố H thì thấy đèn tín hiệu màu vàng. Bị cáo không dừng xe lại mà điều khiển xe mô tô vượt đèn vàng đang chuyển sang đèn đỏ. Khi bị cáo điều khiển xe mô tô đi hết đoạn đường cong ngã ba N, thì cùng lúc này có bị hại Lê Tất L1 (là cán bộ Đội Cảnh sát giao thông số 9 - Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H) di chuyển từ trên vỉa hè đi ra khu vực giữa đường ra hiệu lệnh dừng xe đối với bị cáo, khoảng cách giữa anh L1 và bị cáo là 7,2m. Lúc này phía trước cùng với xe mô tô của bị cáo có 01 chiếc xe mô tô chuyển động cùng chiều, bị cáo nghĩ Cảnh sát giao thông ra hiệu lệnh để dừng xe đi phía trước nên bị cáo đã không giảm tốc độ để dừng xe mà đánh lái sang trái, tránh anh L1. Do khoảng cách gần nên bị cáo đã không kịp xử lý, để phần đầu xe mô tô đâm vào chân trái của anh Lê Tất L1, làm anh L1 bị ngã xuống đường. Xe mô tô do bị cáo điều khiển bị đổ nghiêng về phía bên trái. Hậu quả: Anh L1 bị chấn thương sọ não được mọi người đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu, sau đó chuyển Bệnh viện V điều trị.

Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S, Thành phố H đã phối hợp với các Cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, thu giữ các dấu vết, vật chứng. Kết quả như sau:

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 12 giờ 25 phút ngày 20/02/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S, thể hiện:

“…Hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định là Km44 + 200m đường Quốc lộ 32 thuộc địa phận phường P, thị xã S, thành phố H. Đường được dải nhựa phẳng nhẵn, lượn cong sang phải theo chiều từ Hà Nội đi T.

- Vị trí xảy ra vụ tai nạn giao thông nằm trên đoạn đường thẳng đường Quốc lộ 32, chiều H đi T, mặt đường rộng 9,2m. Ở giữa chiều đường có vạch kẻ sơn trắng ngắt đoạn chỉ phần đường dành cho xe cơ giới, vạch sơn trắng liền chỉ phần đường dành cho xe thô sơ. Tiếp giáp với mép chiều đường bên phải là vỉa hè được dải bê tông, bên trái là dải phân cách cứng.

- Lấy cột mốc ký hiệu H2/44 dựng trên vỉa hè phía bên phải đường Quốc lộ 32 theo chiều từ H đi T làm điểm mốc.

- Lấy mép đường nhựa phía bên phải đường Quốc lộ 32 theo chiều từ H đi T làm mép đường chuẩn.

- Vị trí số (1) trên hiện trường là vết mài trượt liền đoạn, kích thước (2,1x0.05)cm, vết có chiều từ H đi T và hơi chếch chéo ra dải phân cách cứng. Đầu vết, cuối vết cách mép đường chuẩn lần lượt là 7,1m; 7,4m. Từ đầu vết số (1) đo thẳng vuông góc về phía H đến biển báo ngõ A đường P dựng bên trái đường Quốc lộ 32 được 6,2m, đến cột mốc H2/44 là 9,6m, đến biển cấm đi ngược chiều đặt trên dải phân cách cứng là 39m. Từ biển báo hiệu cấm đi ngược chiều đo về phía nội thành H đến cột đèn tín hiệu giao thông là 128m.

- Vị trí số (2) trên hiện trường là vết mài trượt đường nhựa, kích thước (0,9x0,5)m, vết có chiều từ H đi T chếch chéo ra dải phân cách cứng, đầu vết cách mép đường chuẩn 07m, cuối vết cách mép đường chuẩn 7,2m. Vết nằm cách đầu vết 1 về phía T 0,3m.

- Vị trí số (3) trên hiện trường là đám chất màu nâu đỏ, kích thước (0,4x0,3)m, tâm vết cách mép đường chuẩn 7,2m. Vết nằm cách đầu vết 2 về phía T 2,3m.

- Vị trí số (4) trên hiện trường là xe mô tô biển kiểm soát 36G1-29770, trục trước xe cách tâm vết 3 là 12m. Xe được dựng trên mép đường chuẩn, đầu xe hướng về H đuôi xe hướng về T. Trục bánh trước cách mép đường chuẩn 0,2m, trục bánh sau nằm tại mép đường chuẩn.

- Vị trí số (5) trên hiện trường là xe ô tô Cảnh sát giao thông, biển kiểm soát 33A-2016 đỗ trên mặt đường nhựa, đầu xe hướng T, đuôi xe hướng H, trục bánh sau bên trái xe ô tô cách trục bánh trước xe (4) là 25,6m. Trục bánh trước, bánh sau bên phải nằm trên mép đường chuẩn”…

Tại biên bản dựng lại hiện trường ngày 20/02/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S (dựng lại hiện trường theo lời khai của ông Nguyễn Văn D) xác định:

“… - Vị trí lực lượng cảnh sát giao thông phát hiện nam thanh niên điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha vi phạm luật giao thông tại phần đường dành cho người đi bộ, cách vị trí cột mốc H2/44 là 12,7m (vị trí số 1).

- Vị trí xe ô tô biển kiểm soát 33A-2016 đỗ tại vỉa hè phải, đầu xe hướng ra Quốc lộ C, đo thẳng đến cột mốc H2/44 là 12,7m (vị trí số 2).

- Vị trí anh Lê Tất L1 - cán bộ đội Cảnh sát giao thông số I đứng khi phát hiện nam thanh niên điều khiển xe máy Yamaha vi phạm giao thông là tại mép đường nhựa, cách vị trí số 1 là 68,3m, cách vị trí cột mốc H2/44 đo vuông góc là 2,7m (vị trí số 3).

- Vị trí anh L1 di chuyển ra đường để ra hiệu lệnh dừng phương tiện, đo vuông góc vào mép đường 4m, cách cột mốc H2/44 là 2,2m (vị trí số 4).

- Vị trí anh L1 đứng ra hiệu lệnh dừng xe là tại lòng đường cách mép đường chuẩn đo vuông góc là 06m, cách cột H2/44 là 1,9m (vị trí số 5).

- Vị trí anh L1 nằm ngã trên đường cách vị trí số (5) hướng về Ba Vì 12,2m và cũng vuông góc với cột H2/44, cách mép đường chuẩn là 7,2m (vị trí số 6).

- Vị trí ông D đứng phát hiện nam thanh niên đi xe máy vi phạm là tại mép đường chuẩn, cách cột mốc H2/44 đo vuông góc là 2,8m (vị trí số 7). Vị trí ông D cách vị trí số (1) là 73,8m, cách vị trí số (3) là 5,5m, cách vị trí số (4) là 5m, cách vị trí số (6) là 9,4m, cách vị trí số (8) là 21,4m.

- Vị trí chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 36G1-29770 cách vị trí số (7) theo mép đường chuẩn là 21,4m, cách cột mốc H2/44 là 24,2m (đặt là vị trí số 8).

- Tầm nhìn từ vị trí của anh D đứng đến các vị trí số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 không có vật cản”.

Tại biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông hồi 15 giờ 10 phút ngày 21/02/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đối với xe mô tô biển kiểm soát 36G1-297.70, thể hiện:

“…- Mặt ngoài bên trái lốp bánh trước và bên trái vành bánh trước có dấu vết trượt miết trên diện (48x4)cm, dấu vết nằm trên hàng chữ “IRC” ở má bên trái, điểm gần nhất của dấu vết cách chữ “P” trong hàng chữ số “38P” ở má bên trái 50cm, chiều hướng ngược chiều chuyển động tiến của bánh xe.

- Mặt ngoài ốp đèn xi nhan trước bên trái và cánh yếm bên trái có dấu vết trượt, nứt nhựa bám dính sợi, trên diện (24x18)cm, chiều hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 55cm, điểm đầu vết tại vị trí trước của ốp đèn xi nhan.

- Mặt ngoài bàn đạp cần số và cần số bên trái xe có dấu vết trượt, cong kim loại trên diện (13x4,5)cm, chiều hướng của vết từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 21cm, điểm cao nhất cách đất 33,5cm.

- Ốp nhựa xung quanh đồng hồ đo tốc độ bị bật rời khỏi xe.

- Mép cánh yếm bên phải nằm ngang phía trên bị bung chốt hãm, kích thước 48cm, di lệch so với vị trí ban đầu 2,5cm, tâm vết cách đất 74cm.

- Mép cánh yếm bên trái nằm ngang phía trên bị bung chốt hãm, kích thước 45cm, di lệch so với vị trí ban đầu 1,5cm, tâm vết cách đất 74cm, phần bên phải mặt lạ trước đầu xe có bám dính chất màu nâu đỏ trên diện (5x3)cm.

- Còi, đèn chiếu sáng, đèn xi nhan phải, trái, trước sau hoạt động bình thường, phanh chân, phanh tay có hiệu lực”...

Tại bản Kết luận giám định số 3694/KL-PC09-Đ3 ngày 18/5/2020 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận:

“…- Dấu vết trượt mất bụi đất, xước cao su màu đen trên diện (48x04)cm tại mặt ngoài má bên trái lốp bánh trước và bên trái vành bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 36G1-297.70, chiều hướng ngược chiều chuyển động tiến của bánh xe phù hợp với dấu vết trượt, bám dính chất màu đen trên diện (35x10)cm tại mặt trước ống quần bên trái quần Cảnh sát giao thông, chiều hướng từ trước ra sau.

- 02 dấu vết cày xước trên diện (2,1mx0,65cm) và (0,9mx0,65cm) tại mặt đường nhựa chiều hướng từ Hà Nội đi T và chếch chéo ra dải phân cách cứng do va chạm với vật tày cứng tạo ra”…

Tại bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 333/TTPY ngày 27/4/2020 của Trung tâm P - Sở Y tế Thành phố H, kết luận về thương tích của anh Lê Tất L1, như sau:

“… 1. Sẹo vết thương, vết mổ vùng trán-Thái dương bên trái: 03%.

2. Sẹo xây xát mặt trước gối trái, cẳng chân trái: 03%.

3. Ổ khuyết xương sọ vùng trán trái kích thước khoảng 06 cm x 08 cm: 31%.

4. Ổ tổn thương não ( tụ máu khí ngoài màng cứng vùng chẩm- thái dương trái, chảy máu dưới nhện trong một số rãnh cuộn não thùy trán trái): 30%.

5. Vỡ xương đá trái: 16%.

Tỷ lệ tổn hại sức khỏe của anh Lê Tất L1 là 62%, tính theo phương pháp cộng lùi”.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 02/XNHP-TTPY ngày 10/3/2020 của Trung tâm P - Sở Y tế Thành phố H, kết luận: “… Mẫu máu của Phạm Văn Q không có E; Không phát hiện thấy các chất gây nghiện”.

Vật chứng vụ án thu giữ gồm:

- Thu giữ của bị cáo Phạm Văn Q: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter màu trắng đỏ đen, biển kiểm soát 36G1-297.70; 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe hạng A1 đều mang tên Phạm Văn Q; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe biển kiểm soát 36G1-297.70.

- Thu giữ do chị Phùng Thị Ngọc Á giao nộp: 01 căn cước công dân mang tên Phùng Thị Ngọc Á.

- T do anh Nguyễn Văn D (là cán bộ Đội Cảnh sát giao thông số 9 - Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H) giao nộp: 01 dây chéo Công an nhân dân; 01 áo Cảnh sát giao thông thu đông màu vàng và 01 quần Cảnh sát giao thông màu vàng.

Ngày 21/02/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đã quyết định xử lý vật chứng trả lại anh Nguyễn Văn D 01 dây chéo Công an nhân dân; 01 áo Cảnh sát giao thông thu đông màu vàng và 01 quần Cảnh sát giao thông màu vàng.

Ngày 07/7/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo Phạm văn Q 01 căn cước công dân mang tên Phùng Thị Ngọc Á; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Excite màu trắng đỏ đen, biển kiểm soát 36G1-297.70; 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn Q và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe biển kiểm soát 36G1-297.70.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Phạm Văn Q đã thỏa thuận và bồi thường cho anh Lê Tất L1 số tiền 140.000.000 đồng. Anh L1 đã nhận tiền, không yêu cầu bồi thường thêm, đồng thời có đơn đề nghị Cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với Phạm Văn Q.

Cáo trạng số 535/CT-VKSHN-P2 ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, buộc tội bị cáo tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 260; Điều 65; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo nhận tội, thừa nhận hành vi như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không tham gia tranh luận mà chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, điều tra viên và kiểm sát viên đã thực hiện trong vụ án về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, vật chứng thu được và phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 10 giờ 36 phút ngày 20/02/2020, bị cáo Phạm Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển kiểm soát 36G1-297.70 chở chị Phùng Thị Ngọc Á đi trên đường Quốc lộ 32 hướng thị xã S đi huyện B, Thành phố H. Khi đi đến ngã tư N, thị xã S, bị cáo quan sát thấy đèn tín hiệu tại ngã tư chuyển sang màu vàng, nhưng không dừng lại mà tiếp tục di chuyển. Do không làm chủ được tốc độ, nên bị cáo đã để bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 36G1-297.70 đâm vào chân trái anh Lê Tất L1 là cán bộ Đội cảnh sát giao thông số I, Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H đang đứng trên đường ra hiệu lệnh cho bị cáo dừng xe, gây tai nạn, làm anh L1 bị ngã văng ra trên mặt đường, bị chấn thương sọ não làm tổn hại 62% sức khỏe.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn Q đã vi phạm khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả làm anh Lê Tất L1 bị tổn hại 62% sức khỏe. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ; xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và không giảm tốc độ khi có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm, không giữ khoảng cách an toàn nên đã để xảy ra tai nạn. Do vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên bị cáo không tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên xử cho bị cáo được hưởng án treo vẫn đảm bảo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Như đại diện viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vật chứng: Thu giữ và lưu tại hồ sơ vụ án có 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phạm Văn Q thì trả lại cho bị cáo. Xét thấy vật chứng và các tài sản thu giữ trong vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sử hữu là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát buộc tội bị cáo về tội đã truy tố và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng:

- Điểm b khoản 1 Điều 260; Điều 65; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số: 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử phạt bị cáo:

Phạm Văn Q 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trả cho bị cáo Phạm Văn Q 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phạm Văn Q (đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án, bút lục 470).

Án phí: Bị cáo Phạm Văn Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ