vanban.org

Bản án 772/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Lệ K ly hôn với ông Lê Thanh T. Giấy chứng nhận kết hôn số 66, do Uỷ ban nhân dân Phường 8, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08 tháng 11 năm 2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Lệ K - Lê Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 772/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04-8-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Xuân Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thái Thục Hiền.

2. Bà Đặng Thị Huê.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Diệu Trinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/7/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 120/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Lệ K, sinh năm 1993.

Địa chỉ thường trú: Số 119/15-17 đường T, phường PT, quận TP, Thành phố H; địa chỉ liên lạc: Lô 2/18 đường H, Phường A, Quận B, Thành phố H. (xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Lô 2/18 đường H, Phường A, Quận B, Thành phố H. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Phạm Lệ K trình bày:

Bà Phạm Lệ K và ông Lê Thanh T tự nguyện tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân Phường 8, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 66, ngày 08 tháng 11 năm 2018.

Sau một thời gian chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã, không có thời gian chăm sóc gia đình, con cái. Bà K và ông T đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2022.

Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành nên bà K yêu cầu Toà án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh T.

- Về con chung: Bà K và ông T có một con chung là Lê Bảo K (giới tính: nam; sinh ngày: 24/8/2021). Sau khi ly hôn, bà K yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành. Việc cấp dưỡng hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà K xác nhận không có. Không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà K xác nhận không có. Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bà K cam kết việc ly hôn của bà và ông T không nhằm trốn tránh bất kỳ nghĩa vụ nào và bà chỉ nộp đơn khởi kiện ly hôn tại Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên toà sơ thẩm,

- Nguyên đơn bà Phạm Lệ K có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn ông Lê Thanh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/7/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 120/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2023; Giấy triệu tập tham gia phiên toà nhưng ông Lê Thanh T vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Thanh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

+ Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ những quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ để xem xét giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Lệ K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Phạm Lệ K đã cung cấp đầy đủ lời khai cùng các tài liệu, chứng cứ cho Toà án và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Lê Thanh T đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ để cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng.

Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Phạm Lệ K nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh T, đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn là ông Lê Thanh T cư trú tại Quận 8 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà Phạm Lệ K và ông Lê Thanh T tự nguyên tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân Phường 8, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 66 ngày 08 tháng 11 năm 2018. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ lời khai của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nhận thấy giữa bà Phạm Lệ K và ông Lê Thanh T chỉ ràng buộc về mặt pháp lý, cả hai không còn tình cảm với nhau, đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2022, quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Bị đơn ông Lê Thanh T vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp lời khai thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Lệ K đối với ông Lê Thanh T.

Về con chung:

Căn cứ Bản sao Giấy khai sinh số 103 đăng ký ngày 23/10/2021 tại Uỷ ban nhân dân Phường 8, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cùng lời khai của nguyên đơn có đủ cơ sở xác định bà Phạm Lệ K và ông Lê Thanh T có một con chung là Lê Bảo K (giới tính: nam; sinh ngày: 24/8/2021).

Căn cứ lời khai của nguyên đơn thì từ lúc ly thân đến nay bà K là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, trẻ Lê Bảo Khang hiện nay dưới 36 tháng tuổi. Yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn của bà K là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng cho con: Bà Phạm Lệ K yêu cầu tự thoả thuận với ông Lê Thanh T, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Lệ K xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết. Ông Lê Thanh T vắng mặt, không có lời khai yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên toà, ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Lệ K phải chịu theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014),

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Lệ K ly hôn với ông Lê Thanh T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 66, do Uỷ ban nhân dân Phường 8, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08 tháng 11 năm 2018.

1.2. Về con chung và cấp dưỡng cho con:

Sau khi ly hôn, giao con chung Lê Bảo K (giới tính: nam; sinh ngày: 24/8/2021) cho bà Phạm Lệ K tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ông Lê Thanh T có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng cho con.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Lệ K xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Phạm Lệ K phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2021/0017838 ngày 15/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phạm Lệ K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Lệ K, ông Lê Thanh T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ