- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trần Như T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? . Không chấp nh n kháng của bị cáo Nguyễn Trần Như T và bị cáo Lâm Bảo Đ.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 770/2020/HS-PT Ngày 08 – 12 – 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Long
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thanh Duyên
Ông Nguyễn Văn Tửu
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 196/2020/TLPT-HS ngày 16 tháng 6 năm 2020 đối với các bị cáo Nguyễn Trần Như T và Lâm Bảo Đ.
Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2020/HS-ST ngày 12 tháng 05 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguy n Tr n Như T, sinh năm 1971 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 247/2 Đường B Phường qu n B Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Phòng 4.02 Chung cư Petridot số 226 5 Đường A Phường 6 Qu n 8 Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T đ ch t và bà Trần Thị T; có vợ Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1976 đ ly hôn năm 2007 và vợ Đồng Thị Ngọc H, sinh năm 990; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000 nhỏ nhất sinh năm 20 7; tiền án tiền sự: Không. Bị b t tạm giam ngày 25 0 20 8 có mặt .
2. âm o Đ sinh năm 1974 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 220 Đường B Phường 2 qu n B Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn H và bà Hồ Thị Ngọc A; có vợ Nguyễn Hoàng O đ ly hôn năm 20 7); tiền sự: không; tiền án: Tại Bản án số 392/2012/HSST ngày 27/11/2012 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chấp hành xong hình phạt tháng 07/2016; nhân thân:
- Tháng 0 994 bị Công an qu n Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh b t về hành vi “Cướp tài sản” Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 36 tháng tù giam chấp hành án tại Trại tạm giam Chí Hòa Công an Tp Hồ Chí Minh. Ngày 30 4 996 chấp hành xong hình phạt. Bản án số 288 HSST ngày 9/11/1994;
- Ngày 26 4 999 bị Công an huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thu n b t về hành vi “Trộm c p tài sản” Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xử phạt 5 tháng tù giam chấp hành án tại Trại giam Sông Cái Bộ Công an. Tháng 9 2000 chấp hành xong hình phạt. Bản án số 5 HSST ngày 3 0 999;
- Ngày 05 02 2003 bị Công an qu n Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh b t về hành vi “Cướp gi t tài sản” Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam chấp hành án tại Trại giam Thủ Đức Bộ Công an. Tháng 06 2006 chấp hành xong hình phạt. Bản án số 500 HSST ngày 25/8/2003;
- Ngày 2 7 20 7 bị Công an qu n 0 TP Hồ Chí Minh b t về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” Ủy ban nhân dân phường 2 qu n 0 TP Hồ Chí Minh ra Quy t định đưa vào cơ sở trị bệnh b t buộc Nhị Xuân TP Hồ Chí Minh. Ngày 29 9 20 7 Ủy ban nhân dân phường 2 qu n 0 TP Hồ Chí Minh ra Quy t định hủy Quy t định đưa vào cơ sở trị bệnh b t buộc Nhị Xuân.
Bị b t tạm giam ngày 25 0 20 8 có mặt .
Người bào chữa:
. Lu t sư Hồ Hoài N, thuộc Đoàn lu t sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Trần Như T có mặt .
2. Lu t sư Trương Thị H và lu t sư Nguyễn Minh Hg, thuộc Đoàn lu t sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Lâm Bảo Đ có mặt .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Vào lúc 2 giờ 20 phút ngày 25 0 20 8 tại trước cổng trường Võ Thị Sáu số 95 Đinh Tiên Hoàng Phường 3 qu n Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Trần Như T và Lâm Bảo Đ đang có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” thì bị phát hiện b t quả tang. Thu giữ trong xe ô tô biển số 5 F - 942.25 do Đ làm tài x và T ngồi ở gh phụ bên phải gồm: tại cốp ngay cần gạt số giữa 02 gh trước của xe ô tô 0 gói nylon màu đen bên trong có 02 gói nylon chứa ma túy ở thể r n có khối lượng 99 45 gam loại Methamphetamine; tại hộc đựng nước ngay cần gạt số giữa 02 gh trước của xe ô tô 0 gói nylon chứa ma túy ở thể r n có khối lượng 2 6735 gam loại Methamphetamine; tại hộc đựng đồ bên phải phía trước gh phải 0 túi vải màu xanh có dòng chữ “ROYAL SALUTE” bên trong gồm có: 0 túi vải dù màu đen bên trong có 02 gói nylon màu xanh chứa chất bột màu tr ng có khối lượng 4 5387 gam không tìm thấy chất ma túy, 0 hộp nhựa màu đen bên trong có 0 gói nylon chứa 05 viên nén: 0 viên hình con nhộng chứa chất bột màu nâu có khối lượng 0 3720 gam không tìm thấy chất ma túy; 0 viên nén màu xám là ma túy thể r n có khối lượng 0 4398 gam loại MDMA; 0 viên nén hình tròn màu tr ng đục ma túy thể r n có khối lượng 0 4670 gam loại MDMA; 02 viên nén màu nâu là ma túy thể r n có khối lượng 0 8 85 gam loại Ketamine; 0 viên nén và mảnh vụn viên nén màu hồng là ma túy thể r n có khối lượng 0 8875 gam loại Ketamine; 0 gói nylon chứa chất bột màu xanh là ma túy thể r n có khối lượng 0 6096 gam loại Methamphetamine; 0 gói nylon chứa chất bột màu tr ng là ma túy thể r n có khối lượng 0 2969 gam loại MDMA; 0 cân điện tử; tại hộc để đồ bên cánh cửa bên trái 0 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Ti n hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trần Như T tại phòng số 4.02 Chung cư Petridot số 226 5 Đường A Phường 6 Qu n 8 phát hiện thu giữ trong phòng kho thứ nhất phía bên phải dưới nền nhà 0 túi vải màu xanh đen bên trong có 08 gói nylon chứa ma túy ở thể r n có khối lượng 786 72 gam loại Methamphetamine và 0 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Toàn bộ số ma túy thu giữ của T và Đ được trưng cầu giám định k t quả thể hiện tại Bản k t lu n giám định số 756 KLGĐ-H ngày 02 20 8 của Phòng kỹ thu t hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Quá trình điều tra Nguyễn Trần Như T khai nh n: T sử dụng ma túy từ khoảng tháng 8 20 8 cho đ n khi bị b t. Khoảng năm 20 5 thông qua bạn bè ngoài x hội giới thiệu T quen bi t một người phụ nữ tên Nhi không rõ lai lịch . Đ n khoảng tháng 8 20 8 T gặp lại Nhi bi t Nhi đang hoạt động mua bán ma túy và bảo T tìm giúp người mua ma túy để Nhi bán T đồng ý. Ngày 2 0 20 8 tại trước sảnh tòa nhà Landmark 81, khu Vinhome, Phường 22 qu n Bình Thạnh Nhi đưa cho T 0 kg ma túy đá được chia sẵn trong 0 gói nylon mỗi gói là 00 gam 0 số viên thuốc l c và Ketamine. Nhi nói với T khi nào có khách liên lạc để mua 08 gói ma túy đá thì Nhi sẽ gọi điện T cho T đi giao ma túy cho khách và đem tiền về cho Nhi. Còn 02 gói ma túy đá còn lại Nhi nói với T n u có khách mua thì T đem đi bán nhưng phải trả lại cho Nhi 37.000.000 đồng 0 gói còn lại T bán được giá bao nhiêu thì hưởng chênh lệch bấy nhiêu. Đối với số ma túy là thuốc l c và Ketamine thì Nhi nói T cất giữ ai hỏi mua thì bán. Sau khi nh n ma túy từ Nhi T đem về cất giấu tại chỗ ở của mình rồi điện T cho Đ bi t T đang có 200 gam ma túy đá và Bảo Đ tìm người mua, Đ đồng ý. Khoảng 7 giờ 00 phút ngày 25 0 20 8 T nh n được điện T của Đ nói có khách ở qu n Bình Thạnh hỏi mua 00 gam ma túy đá giá 38.000.000 đồng T đồng ý bán số tiền lời bán được .000.000 đồng thì T và Đ sẽ chia đôi mỗi người 500.000 đồng. Ngoài ra Đ còn bảo T mang theo 100 gam ma túy đá nữa để dự phòng có khách mua thì bán luôn. Sau khi thỏa thu n với Đ xong, T lấy 200 gam ma túy đá và cầm theo túi vải màu xanh ghi chữ “ROYAL SALUTE” đựng số thuốc l c và Ketamine rồi bỏ tất cả vào trong 0 chi c cặp màu đen. Đ n khoảng 8 giờ 00’ cùng ngày 25 0 20 8 Đ điều khiển xe ô tô biển số 5 F - 942.25 đ n chung cư Petridot số 226 5 Đường A, Phường 6 Qu n 8 đón T. Khi lên xe, T ngồi ở gh phụ phía trước xe rồi lấy 02 gói ma túy đá trong cặp màu đen ra để trong gói nylon có sẵn trên xe rồi cất giấu trong cốp ngay cần gạt số giữa hai gh và nói với Đ là: “T để 02 gói ma túy đá ở đây” Đ nói là “Để đó đi khi gặp khách Đ sẽ nói chuyện”. Còn túi vải màu xanh đựng số thuốc l c T để trong hộp để đồ phía trước gh phụ T đang ngồi nhưng không cho Đ bi t. Sau đó Đ chở T đ n ng tư Nguyễn Văn Đ u và Lê Quang Định qu n Bình Thạnh. Khi đ n điểm hẹn thì có 0 người phụ nữ tên Bi không rõ lai lịch đi xe máy đ n chỗ đ u xe ô tô của Đ và T. Đ và Bi thoả thu n mua bán ma túy nhưng do Bi không đủ tiền nên T không đồng ý bán và Bảo Đ chở T về nhà. Sau đó Đ lái xe chở T quay về khi Đ và T đi đ n trước cổng trường Võ Thị Sáu số 95 Đinh Tiên Hoàng Phường 3 qu n Bình Thạnh thì bị Cơ quan điều tra - Công an qu n Bình Thạnh kiểm tra phát hiện b t quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy như nêu trên. Sau đó ti n hành khám xét thu giữ 08 gói ma túy do Nhi giao đang cất giấu tại nơi ở của T.
Lâm Bảo Đ khai nh n phù hợp với lời khai của Nguyễn Trần Như T về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” đ thực hiện như nêu ở trên. Sau khi nh n được điện T của T báo có 200 gam ma túy cần tìm người mua Đ đ n khu vực đường Chu Văn An qu n Bình Thạnh gặp một người phụ nữ tên Bi hay còn gọi là Phi không rõ lai lịch . Tại đây Đ nói cho Bi Phi bi t là Đ đang có nguồn ma túy đá hỏi Bi Phi có mua không. Bi Phi đồng ý mua của Đ 100 gam ma túy đá giá 38.000.000 đồng Đ đồng ý bán. Đ hẹn với Bi Phi khi nào có ma túy sẽ liên lạc với Bi Phi để hẹn địa điểm giao dịch. Đ n khoảng 7 giờ 00 phút ngày 25/10/2018, Đ điện T cho Bi Phi hẹn gặp nhau tại ng tư Nguyễn Văn Đ u và Lê Quang Định qu n Bình Thạnh để giao ma túy và nh n tiền Bi Phi đồng ý. Đ điện T cho T bi t có người cần mua 00 gam ma túy đá giá 38.000.000 đồng T đồng ý bán. Đ còn nói với T đem thêm 00 gam ma túy đá nữa n u ai hỏi mua thì bán luôn. Đ n khoảng 8 giờ 00 phút cùng ngày Đ điều khiển xe ô tô biển số 5 F - 942.25 đ n nhà đón T đi đ n điểm hẹn gặp Bi Phi nhưng do Bi Phi không đem theo đủ tiền nên Đ và T không bán ma túy cho Bi Phi . Sau đó Đ và T bỏ đi về trên đường đi về thì bị Cơ quan Công an b t quả tang như đ nêu trên. Riêng 0 gói ma túy đá có khối lượng 2 6735 gam loại Methamphetamine cất giấu tại hộc đựng nước ngay cần gạt số giữa 02 gh trước xe ô tô là của Đ mua của một người tên Phương không rõ lai lịch với giá .250.000 đồng vào ngày 24 0 20 8 tại khu vực qu n Gò Vấp với mục đích để sử dụng và khi có ai hỏi mua sẽ bán lại ki m lời nhưng đ bị Cơ quan Công an thu giữ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2020/HS-ST ngày 12 tháng 05 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:
1. Áp dụng điểm h khoản 4 khoản 5 Điều 25 ; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 5 ; Điều 58 và Điều 40 của Bộ lu t hình sự năm 20 5 sửa đổi, bổ sung năm 20 7 xử phạt Nguyễn Trần Như T tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ti p tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Buộc bị cáo phải nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 hai mươi triệu đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
2. Áp dụng điểm b khoản 4 khoản 5 Điều 25 ; điểm s khoản khoản 2 Điều 5 ; điểm h khoản Điều 52; Điều 58 và Điều 39 của Bộ lu t hình sự năm 20 5 sửa đổi bổ sung năm 20 7 xử phạt Lâm Bảo Đ tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25 0 20 8.
Buộc bị cáo phải nộp phạt bổ sung số tiền 0.000.000 mười triệu đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý v t chứng án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp lu t.
Ngày 18/5/2020, bị cáo Lâm Bảo Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 9 5 2020 bị cáo Nguyễn Trần Như T kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng 0 kg là không đúng bị cáo chỉ mua bán 200g ma túy số ma túy còn lại bị thu giữa tại chỗ ở của bị cáo không phải để mua bán.
Tại phiên tòa phúc thẩm Đại diện Viện kiểm sát cấp cao phát biểu:
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Nguyễn Trần Như T, Lâm Bảo Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” là có căn cứ đúng pháp lu t. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo T và bị cáo Đ kháng cáo. Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng:
Đối với bị cáo T: Bị cáo chỉ thừa nh n mua bán số lượng khoảng 200g ma túy số ma túy còn lại khoảng 800g bị thu giữa tại chỗ ở của bị cáo không phải để mua bán. Tuy nhiên, căn cứ vào các biên bản hỏi cung bị can được ghi âm ghi hình có lu t sư bào chữa cho bị cáo Thoại bị cáo T đều khai nh n Nhi có nói với bị cáo “Khi nào có người mua thì bị cáo bán” nên toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo đều có mục đích là để bán cho người khác nhằm thu lợi bất chính. Vì v y bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ số ma túy thể r n bị thu giữ khi mang ma túy đi bán và bị thu giữ tại nơi ở. Do đó kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin xem xét lại khối lượng ma túy mua bán là không có cơ sở chấp nh n.
Đối với bị cáo Đ: Bị cáo thừa nh n nh n toàn bộ những hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy k t chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên bị cáo không xuất trình được tình ti t giảm nhẹ đặc biệt nào mới những tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo trình bày đ được xem xét ở cấp sơ thẩm. Do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trần Như T phát biểu:
Qua các lời khai của bị cáo thì có căn cứ để xác định nguồn gốc ma túy mà bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy là từ một người phụ nữ tên Nhi cung cấp với khối lượng gần kg. Tuy nhiên T chỉ có hành vi mua bán 200g ma túy khi bị b t cùng tang v t trên xe ô tô do Lâm Bảo Đ điều khiển. Số ma túy còn lại bị cáo cất giữ ở nhà với mục đích cất giữ cho Nhi do Nhi gửi. Tòa án cấp sơ thẩm gộp tất cả số ma túy khi bị b t và khám xét tại nơi ở của bị cáo T là không đúng. Bị cáo T có hai hành vi phạm tội là “mua bán trái phép chất ma túy” và “tàng trữ trái phép chất ma túy” vì th Lu t sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nh n một phần đơn kháng cáo của bị cáo tuyên hủy bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Lâm Bảo Đ phát biểu:
Bị cáo Lâm Bảo Đ phạm tội thuộc trường hợp giúp sức. Số ma túy chưa bán được nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Đồng thời theo nguyên t c có lợi cho bị cáo Lu t sư đề nghị Hội đồng xét xử v n dụng Nghị quy t số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 5 3 200 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều khi xét xử các tội phạm về ma túy. Đồng thời do bị cáo có nhiều tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nh n đơn kháng cáo của bị cáo Lâm Bảo Đ.
Lời nói sau cùng các bị cáo đồng ý với l p lu n bào chữa các vị lu t sư.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nh n định như sau:
[ ] Vì mục đích tư lợi nên sau khi có ma túy do một người phụ nữ tên Nhi không rõ lai lịch giao cho Nguyễn Trần Như T 0 kg ma túy đá được chia sẵn trong 0 gói nylon mỗi gói 00g một số viên thuốc l c và Ketamine vào ngày 2 0 20 8 tại trước sảnh tòa nhà Landmard 8 với lời dặn khi nào có khách liên lạc để mua 08 gói ma túy đá thì Nhi sẽ gọi điện T cho T đi giao ma túy cho khách và đem tiền về cho nhi. Còn 02 gói ma túy đá còn lại Nhi nói với T n u có khách mua thì T đem đi bán nhưng phải trả lại cho Nhi 37.000.000 đồng 0 gói còn lại T bán được giá bao nhiêu thì hưởng chênh lệch bấy nhiêu. Đối với số ma túy là thuốc l c và Ketamine thì Nhi nói T cất giữ ai hỏi mua thì bán. Sau khi nh n ma túy từ Nhi T đem về cất giấu tại chỗ ở của mình rồi điện T cho Đ bi t T đang có 200 gam ma túy đá và Bảo Đ tìm người mua Đ đồng ý. Khoảng 7 giờ 00 phút ngày 25 0 20 8 T nh n được điện T của Đ nói có khách ở qu n Bình Thạnh hỏi mua 00 gam ma túy đá giá 38.000.000 đồng T đồng ý bán số tiền lời bán được .000.000 đồng thì T và Đ sẽ chia đôi mỗi người 500.000 đồng. Ngoài ra Đ còn bảo T mang theo 00 gam ma túy đá nữa để dự phòng có khách mua thì bán luôn. Sau khi thỏa thu n với Đ xong, T lấy 200 gam ma túy đá và cầm theo túi vải màu xanh ghi chữ “ROYAL SALUTE” đựng số thuốc l c và Ketamine rồi bỏ tất cả vào trong 0 chi c cặp màu đen. Đ n khoảng 8 giờ 00’ cùng ngày 25 0 20 8 Đ điều khiển xe ô tô biển số 5 F
- 942.25 đ n chung cư Petridot số 226 5 Đường A, Phường 6 Qu n 8 đón T. Khi lên xe, T ngồi ở gh phụ phía trước xe rồi lấy 02 gói ma túy đá trong cặp màu đen ra để trong gói nylon có sẵn trên xe rồi cất giấu trong cốp ngay cần gạt số giữa hai gh và nói với Đ là: “T để 02 gói ma túy đá ở đây” Đ nói là “Để đó đi khi gặp khách Đ sẽ nói chuyện”. Còn túi vải màu xanh đựng số thuốc l c T để trong hộp để đồ phía trước gh phụ T đang ngồi nhưng không cho Đ bi t. Sau đó Đ chở T đ n ng tư Nguyễn Văn Đ u và Lê Quang Định qu n Bình Thạnh. Khi đ n điểm hẹn thì có 0 người phụ nữ tên Bi không rõ lai lịch đi xe máy đ n chỗ đ u xe ô tô của Đ và T. Đ và Bi thoả thu n mua bán ma túy nhưng do Bi không đủ tiền nên T không đồng ý bán và Bảo Đ chở T về nhà. Sau đó Đ lái xe chở T quay về khi Đ và T đi đ n trước cổng trường Võ Thị Sáu số 95 Đinh Tiên Hoàng Phường 3 qu n Bình Thạnh thì bị Cơ quan điều tra - Công an qu n Bình Thạnh kiểm tra phát hiện b t quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy như nêu trên. Sau đó ti n hành khám xét thu giữ 08 gói ma túy do Nhi giao đang cất giấu tại nơi ở của T.
Quá trình điều tra xét xử các bị cáo đ khai nh n diễn bi n hành vi phạm tội như nêu trên. Tuy nhiên đối với bị cáo Nguyễn Trần Như T cho rằng mình chỉ có hành vi mua bán 200 gam ma túy số lượng ma túy cất giữ tại nhà chưa hề có hành vi mua bán với bất cứ ai. Bị cáo Lâm Bảo Đ cho rằng chỉ mua bán 00 gam ma túy số lượng ma túy mà T mang theo không hề bi t.
Xét lời khai của các bị cáo Hội đồng xét xử nh n thấy:
2.1. Đối với lời khai của bị cáo Nguy n Tr n Như T:
Tại bản tường trình ngày 25/10/2018 (bút lục số 167) bị cáo T khai “Số ma túy trên tôi nh n từ Nhi tất cả là 0 bịch mỗi bịch 00g và sẽ giao cho khách của Nhi khi Nhi điện T cho tôi. Nhi có dặn là sẽ giao khoảng 08 bịch còn lại 02 bịch n u tôi có bi t ai cần thì cho phép tôi bán. Nhưng vì tôi không quen bi t ai về việc này nên tôi có nhờ Đ giao dùm tôi. Tiền chênh lệch sẽ chia đôi”. Bản tự khai ngày 26/10/2018 (bút lục 168) cũng thể hiện “Nhi có nói với tôi ngoài 0 gói ma túy đá thì còn một ít thuốc l c và Ketamine. Đối với ma túy đá thì Nhi dặn tôi sẽ có khách mua 08 gói Nhi sẽ điện T đi giao giá cả sẽ do Nhi thỏa thu n với khách. Khi giao ma túy khách đưa tiền tôi chỉ nh n mà thôi”. Các bản tự khai của bị cáo T phù hợp với các biên bản ghi lời khai ngày 25 và 26 /10/2018 (thể hiện qua các bút lục số 170, 172, 174) phù hợp với lời khai ngày 0
20 8 tại phòng ghi âm ghi hình có sự tham gia của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (bút lục 177 đến 180) và phù hợp với lời khai ngày 06 2 20 8 (bút lục 176) có sự tham dự của lu t sư Nguyễn Năng Quang “…khám xét nhà tôi thu giữ 08 gói ma túy đá. Số ma túy trên là của Nhi đưa cho tôi vào ngày 2 0 20 8. Nhi dặn tôi đi giao 08 gói ma túy đá cho khách của Nhi khi nào Nhi điện T sẽ đi giao còn 02 gói ma túy tôi được phép bán nhưng phải trả cho Nhi 37.000.000 đồng một gói”. Như v y căn cứ vào lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định số ma túy đựng trong 08 gói nilon Nguyễn Trần Như T cất giữ tại nơi ở mà cơ quan công an thu giữ được là cũng nhằm mục đích mua bán do đó bị cáo Nguyễn Trần Như T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “mua bán trái phép chất ma túy bị thu giữ là 986 7796 gam loại Methamphetamine; 706 gam loại ketamine và 2073 gam loại MDMA.
2.2. Đối với lời khai của bị cáo âm o Đ:
Lời khai của bị cáo Nguyễn Trần Như T tại các phiên tòa và các lời khai trong quá trình điều tra vụ án về việc ngoài 00g ma túy đá mang đi để bán cho một người tên Phi (Bi), Lâm Bảo Đ còn bi t bị cáo T mang theo thêm 100 gam ma túy đá với mục đích có khách mua sẽ bán được thể hiện qua lời khai của bị cáo Lâm Bảo Đ tại bản tường trình ngày 25 0 20 8 (bút lục 257) “Vào lúc 17h hôm nay tôi có chạy xe Toyota Vios biển số 5 F9 – 4225 đ n chung cư điện lực qu n 8 gặp T để chở T đi đưa ma túy. T cầm xuống đưa cho tôi 02 gói nilon chứa ma túy đá 02 lạng ma túy . Lời khai này cũng phù hợp với lời khai thể hiện qua biên bản lấy lời khai ngày 0
20 8 (bút lục 268): “Về số lượng ma túy khoảng 200g theo thỏa thu n với Bi chỉ mua 00g nhưng T cho tôi bi t là có 02 gói khoảng 200g nên tôi bảo T đem theo n u bán được thì bán..” và trùng khớp với lời khai giữa bị cáo T và bị cáo Đ vào ngày 26/10/2018 khi cơ quan điều tra ti n hành đối chất. Như v y có đủ căn cứ xác định Lâm Bảo Đ phải chịu trách nhiệm hình sự với số lượng ma túy ờ thể r n bị thu giữ khi cùng với Nguyễn Trần Như T mang ma túy đi bán cho Bi Phi và số ma túy ờ thể r n trước đó Đ mua tại khu vực qu n Gò Vấp để sử dụng và bán lại. Tổng khối lượng là 99 45 gam loại Methamphetamine + 2 6735 gam loại Methamphetamin = 202 gam loại Methamphetamine.
Xét lời khai nh n của các bị cáo tại cơ quan điều tra là thống nhất với nhau phù hợp với lời khai của những người chứng ki n người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan người làm chứng biên bản b t người phạm tội quả tang k t lu n giám định và phù hợp với các chứng cứ khác đ được thu th p có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho x hội đ xâm phạm vào hoạt động quản lý độc quyền của Nhà Nước về cất giữ v n chuyển trao đổi các chất ma túy ngoài ra còn gây mất tr t tự trị an x hội. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Trần Như T và Lâm Bảo Đ đ đủ y u tội cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong đó Nguyễn Trần Như T đ phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp có từ 02 chất ma túy trở lên theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 25 và bị cáo Lâm Bảo Đ đ phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp Methamphetamine có khối lượng từ 00 gam trở lên theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 25 Bộ lu t hình sự năm 2015 như án sơ thẩm đ tuyên là có căn cứ đúng pháp lu t.
Khi quy t định hình phạt cấp sơ thẩm đ căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội cũng như căn cứ vào khối lượng ma túy mà các bị cáo mua bán để xử phạt đối với từng bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm mặc dù gia đình bị cáo Lâm Bảo Đ cung cấp hóa đơn nộp số tiền 0.000.000 đồng tự nguyện thi hành số tiền phạt bổ sung được coi là tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Tuy nhiên xét về nhân thân bị cáo Lâm Bảo Đ nh n thấy: Bị cáo Lâm Bảo Đ mặc dù phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức nhưng bị cáo có 0 tiền án 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 392/2012/HSST ngày 27/11/2012 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chấp hành xong hình phạt tù vào tháng 7 20 6, chưa được xóa án tích nay lại ti p tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản Điều 52 Bộ lu t hình sự. Bản thân bị cáo Lâm Bảo Đ có nhân thân xấu trước đó đ nhiều lần bị xử phạt tù về các hành vi cướp tài sản trộm c p tài sản, cướp gi t tài sản vào các năm 994 999 2003 sau khi chấp hành xong hình phạt tù đ không chuyên tâm sửa chữa mà lại ti p phạm tội đ thể hiện bị cáo là người bất chấp pháp lu t khó giáo dục cải tạo. Bị cáo Nguyễn Trần Như T không có tình ti t giảm nhẹ mới do đó kháng cáo của các bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nh n.
Xét quan điểm bào chữa cho lu t sư Hội đồng xét xử nh n thấy:
Đối với quan điểm bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trần Như T: Tại phiên tòa bị cáo không chứng minh được lời khai tại cơ quan điều tra liên quan đ n số ma túy cất dấu ở nơi ở là do Điều tra viên mớm cung. Do đó các lời khai của bị cáo T là tự nguyện khách quan nên đủ căn cứ xác định số ma túy bị cáo mang theo khi bị b t quả tang cùng v t chứng vào ngày 25 0 20 8 và số ma túy cất giữ tại nơi ở là đ u nhằm mục đích mua bán nên không chấp nh n quản điểm hủy bản án sơ thẩm của vị lu t sư.
Đối với quan điểm bào chữa cho bị cáo Lâm Bảo Đ: Nghị quy t số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 5 3 200 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều khi xét xử các tội phạm về ma túy theo quy định của Bộ lu t hình sự năm 999. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy khi Bộ lu t hình sự năm 20 5 sửa đổi bổ sung năm 20 7 đang có hiệu lực thi hành. Bộ lu t hình sự năm 20 5 sửa đổi bổ sung năm 20 7 đ cụ thể hóa các hướng dẫn trước đây của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và được quy định cụ thể ở các điểm Khoản của Điều lu t. Tội “Mua bán trái phép chất ma túy” có cấu thành hình thức đồng thời bị cáo chưa thực hiện xong hành vi bán ma túy là do người mua không đủ tiền nên các bị cáo không bán sau đó thì bị b t cùng tang v t. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nh n quan điểm bào chữa của Lu t sư cho bị cáo Lâm Bảo Đ.
[5 ] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nh n nên các bị cáo Nguyễn Trần Như T và Lâm Bảo Đ phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quy t định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đ có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản Điều 355 của Bộ lu t Tố tụng hình sự năm 20 5.
. Không chấp nh n kháng của bị cáo Nguyễn Trần Như T và bị cáo Lâm Bảo Đ. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 95/2020/HS-ST ngày 12 tháng 05 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
+ Áp dụng điểm h khoản 4 khoản 5 Điều 25 ; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 5 ; Điều 58 và Điều 40 của Bộ lu t hình sự năm 20 5 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt Nguy n Tr n Như T tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ti p tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Buộc bị cáo phải nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 hai mươi triệu đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
+ Áp dụng điểm b khoản 4 khoản 5 Điều 25 ; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 5 ; điểm h khoản Điều 52; Điều 58 và Điều 39 của Bộ lu t hình sự năm 20 5 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt âm o Đ tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2018. Ti p tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Buộc bị cáo phải nộp phạt bổ sung số tiền 0.000.000 mười triệu đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quy t số 326 20 6 UBTVQH 4 ngày 30 2 20 6 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Nguyễn Trần Như T và Lâm Bảo Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quy t định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đ có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo kháng nghị.
4. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 08 2/2020) bị cáo Nguyễn Trần Như T được quyền gửi đơn xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch nước.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; (1) - VKSNDCC tại TP Hồ Chí Minh; (1) - TAND TP Hồ Chí Minh; (1) - VKSND TP Hồ Chí Minh; (1) - Công an TP Hồ Chí Minh; (1) (1) - Sở Tư pháp TP Hồ Chí Minh; - Cục THADS TP Hồ Chí Minh; (1) - Trại tạm giam CA TP Hồ Chí Minh; (3) để tống đạt cho bị cáo - Lưu VT (6), HS (2) T.18 (BA 36). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Long |