vanban.org

Bản án 77

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "bị cáo Tô Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CT
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản ánsố: 77/2021/HS-ST
Ngày: 03/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT - TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thành Trại - Cán bộ hưu trí

2. Bà Nguyễn Thị Mai Khanh – Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã Long An

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: ông Nguyễn Thành Phục – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CT.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lực, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện CT tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 66/2021/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa ra vụ án xét xử số 76/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Tô Tấn T. Tên gọi khác: Không.

- Sinh ngày 12 tháng 8 năm 2004, tại tỉnh Tiền Giang.

- Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp Tân Quới, xã TLĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang.

- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

- Trình độ học vấn: 08/12.

- Nghề nghiệp: Không.

- Cha: Tô Tâm L, sinh năm 1974.

- Mẹ: Trần Thị T1, sinh năm 1984.

- Bị cáo có 03 anh, em (lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2006), bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

- Bị cáo chưa có vợ con

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/04/2021, chuyển tạm giam ngày 03/5/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam - Công an tỉnh Tiền Giang.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Tô Tâm L, sinh năm 1974 và bà Trần Thị Tâm, sinh năm 1984 (là cha và mẹ bị cáo). Cùng trú tại ấp Tân Quới, xã TLĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang (cùng có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Huỳnh T2 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Tiền Giang (có mặt).

* Người làm chứng: Võ Minh H, sinh năm 2002. Trú tại ấp Tân Quới, xã TLĐ, huyện CT, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 27/4/2021, bị cáo Tô Tấn T cùng bạn là Phạm Huỳnh Tiến uống nước ở gần Khu công nghiệp Long Giang. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Tiến chở bị cáo về xã TLĐ, trên đường đi thì gặp người tên thường gọi là Thuận (không rõ nhân thân cụ thể). Thuận kêu bị cáo đến khu vực gần Khu công nghiệp Tân Hương để giao giúp 01 cái hộp màu xanh, sẽ có người đến lấy và đưa cho bị cáo số tiền 300.000 đồng. Thuận hứa trả công cho bị cáo 100.000 đồng. Bị cáo hỏi Thuận có cái gì bên trong hộp, Thuận không nói nhưng bị cáo nghi vấn bên trong có ma túy đá, nhưng do cần tiền nên bị cáo đồng ý nhận lời giao ma túy cho Thuận. Thuận đưa cho bị cáo xe mô tô hai bánh kiểu Wave biển số 88F4-4785 cùng hộp nhựa màu xanh, bị cáo nhét hộp vào túi quần jean phía trước bên phải rồi điều khiển xe đi.

Bị cáo điều khiển xe 88F4-4785 lưu thông trên Tỉnh lộ 866, đến đoạn phía trước Trường Tiểu học TLĐ thuộc ấp Tân Quới, xã TLĐ. Lúc này lực lượng Cảnh sát giao thông - Công an huyện CT phối hợp cùng Phòng Cảnh sát cơ động

- Công an tỉnh Tiền Giang đang trên đường tuần tra, do thấy bị cáo có biểu hiện nghi vấn vi phạm nên đã chặn dừng để kiểm tra. Kết quả kiểm tra phát hiện bị cáo đang cất giữ trong người 01 hộp nhựa màu xanh, bên trong hộp có 01 túi nylon màu trắng có viền đỏ được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng trong suốt nghi là ma túy tổng hợp, nên L biên bản phạm tội quả tang.

Vật chứng như sau:

- 01(một) gói ny lon màu trắng có viền đỏ một đầu được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp, được cho vào bì thư màu trắng dán niêm phong, bên ngoài gói niêm phong có chữ ký ghi tên Tô Tấn T và dấu hình tròn màu đỏ của Công an xã TLĐ.

Kết luận giám định số 69 ngày 28/04/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang xác định: Các mẫu tinh thể màu trắng trong là ma túy, có khối lượng 0,9842 gam, loại Methamphetamine.

- 01(một) hộp nhựa màu xanh có đậy nắp, cao 13,3 cm, rộng 2,3 cm, ngang 1,2 cm trên thân hộp có chữ “CUTTER”.

- 01(một) xe mô tô hai bánh kiểu dáng xe Wave gắn, biển kiểm soát 88F4-785. Xe mô tô có số máy: VDP1P39FMB015138;số khung: DPWCB01439916.

Tại bản cáo trạng số 74/CT-VKSCT ngày 01/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CT đã truy tố bị cáo Tô Tấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Tô Tấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Tô Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Tô Tấn T từ 01 năm đến01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm bắt tạm giữ là ngày 27/4/2021

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và hộp đựng ma túy.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Thống nhất về tội danh điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc kHnại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo Tô Tấn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo cho rằng do hám lợi nên bị cáo đã nhận ma túy để giao cho người khác và bị bắt quả tang khi đang tàng trữ.

Lời khai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng và các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo tuy chưa thành niên, nhưng vẫn có sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ các chất ma túy là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, để hưởng lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép các chất ma túy. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà mình đã gây ra.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được chất ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người sử dụng, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm, xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện, nó cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khoải xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích trong xã hội và phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 69, ghi ngày 28/4/2021 có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thị Kiều Linh (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu Hương (trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Ngọc Điệp (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CỒNG AN TỈNH TIỀN GIANG, cần tịch thu tiên hủy.

- 01(một) hộp nhựa màu xanh có nắp đậy, cao 13,3 cm, rộng 2,3 cm, ngang 1,2 cm trên thân hộp có chữ “CUTTER”, cần tịch thu tiên hủy.

- 01 (một) xe mô tô hai bánh kiểu dáng xe Wave gắn, biển kiểm soát 88F4-4785.Xe mô tô có số máy: VDP1P39FMB015138; số khung: VDPWCB01439916. Kết quả tra cứu tại Đội cảnh sát giao thông-Trật tự cơ động Công an huyện CT, tỉnh Tiền Giang đối với biển số 88F4-4785 như sau: Xe mô tô gắn biển số 88F4-4785 có số máy: LC150FMG01439916; số khung VTPCG003YVN004216, do Phạm Văn Tuyết, địa chỉ: xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Số máy, số khung không trùng khớp với xe mô tô bị tạm giữ. Tiến hành tra cứu theo số máy, số khung của xe mô tô bị tạm giữ để truy tìm chủ sở hữu thì không tìm thấy dữ liệu. Do có dấu hiệu giả mạo, nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ xe môtô gắn biển số 88F4-4785 để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.

Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến người bào chữa là phù hợp nên chấp nhận.

* Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về Hình phạt

- Tuyên bố bị cáo Tô Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử: Phạt bị cáo Tô Tấn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm bắt tạm giữ là ngày 27/4/2021.

2. Về vật chứng:

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 69, ghi ngày 28/4/2021 có chữ ký in họ tên: Nguyễn Thị Kiều Linh (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu Hương (trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Ngọc Điệp (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CỒNG AN TỈNH TIỀN GIANG; 01 (một) hộp nhựa màu xanh có nắp đậy, cao 13,3 cm, rộng 2,3 cm, ngang 1,2 cm trên thân hộp có chữ “CUTTER”.

(Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện CT đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/7/2021)

3. Về án phí: Bị cáo Tô Tấn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ