- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hồng H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Hồng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hồng H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời g…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2026/HS-ST Ngày 23 - 3 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thúc Giang và bà Doãn Thị Vệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 8 - Phú Thọ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2026/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2026 đối với:
1. Bị cáo Đặng Hồng H, sinh ngày 11/01/2002 tại xã B, tỉnh Phú Thọ; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã B, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 11/12; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Đặng Văn T và bà Tạ Thị H1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Chị Đào Thu H2, sinh năm 1987, HKTT: Khu T, xã V, tỉnh Phú Thọ. Nay đang chấp hành án tại Trại giam T2 - Bộ C1, vắng mặt.
2.2. Anh Vũ Đình H3, sinh năm 1982, HKTT: Số C H, phường T, thành phố Hà Nội. Nay đang chấp hành án tại Trại giam N - Bộ C1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Thu H2 là chủ cửa hàng thời trang “Ngoan ZuZi”, địa chỉ tại thôn M, xã B, tỉnh Phú Thọ có quen biết với Vũ Đình H3. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/3/2024, H3 đến cửa hàng của H2 chơi sau đó cả 2 lên thành phố V (cũ) ăn tối đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì về cửa hàng của H2. Lúc này, tại cửa hàng có Trần Thị C, sinh ngày 12/6/2007, hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; Lê Thị Thu H4, sinh năm 1997, hộ khẩu thường trú tại xã T, tỉnh Phú Thọ; Phàn Mai H5, sinh ngày 12/8/2010, hộ khẩu thường trú tại xã A, tỉnh Lào Cai (đều là nhân viên của H2) H3 nói với mọi người: “Hôm nay anh có lương mời mọi người vui một buổi, thích vui như thế nào đi ăn uống hay thế nào cho các em chọn” thì C trả lời: “Bọn em thích ke, kẹo” ý là sử dụng ma túy ke, ma túy kẹo. Sau khi nghe C nói vậy, thì H3 nói với H2: “Thế thì em gọi đồ đi, chơi cho sớm, anh chuyển tiền cho” ý của H3 là bảo H2 liên hệ mua ma túy kẹo, ke để mọi người sử dụng. Sau đó, H3 dùng tài khoản Viettel Money số 9704229203885137 của H3 chuyển 3.000.000đồng đến tài khoản ngân hàng V số 107876527425 của H2. Sau khi nhận tiền, H2 dùng số điện thoại 0967457209 của H2 gọi đến số điện thoại 0792091833 của Đặng Hồng H (thời điểm đó H là nhân viên quán K ở xã B, tỉnh Phú Thọ) hỏi mua 01 “chỉ ke” và 02 viên ma túy “kẹo”, H đồng ý bán 01 “chỉ ke” và 02 viên ma túy “kẹo” cho H2 với giá 2.600.000đồng. Sau đó H2 chuyển số tiền 2.600.000đồng vào tài khoản số 0960343556789 mở tại Ngân hàng TMCP Q của H (số tiền 400.000đồng H2 trả lại cho H3). Sau khi nhận 2.600.000đồng do H2 chuyển, H bảo H2 đi ra đầu đường C thuộc thôn M, xã B, tỉnh Phú Thọ (hướng thị trấn B cũ đi xã T cũ, cách quán “Ngoan ZuZi” khoảng 200mét) rồi vào trong ngõ đến ven tường nhặt khẩu trang hồng bên trong khẩu trang sẽ có ma túy. Sau đó H2 đi bộ đến địa điểm đã hẹn cầm khẩu trang lên kiểm tra thì thấy có 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy ke và 02 viên ma túy kẹo, H2 cầm túi ma túy đi về cửa hàng đóng cửa quán rồi cùng H3, C, Thu H4, Mai H5 lên gác xép cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Cả nhóm sử dụng ma túy đến khoảng 02 giờ ngày 28/3/2024 thì bị Công an huyện B (cũ) kiểm tra, phát hiện bắt quả tang các đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: T1 tại nền gác xép ở cửa hàng T3 “Ngoan ZuZi” 01 túi nilon trong suốt dạng túi zip có kích thước 2,5x2,5cm bên trong có bám dính chất bột màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A.
Tại kết luận giám định số 878/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng K1 công an tỉnh V (cũ) kết luận: “Chất bám dính trên mẫu vật A gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT40, Nghị định số 57/2022/NĐCP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ”.
Ngày 05/4/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B (nay là Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh P) ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Vũ Đình H3, Đào Thu H2 và Trần Thị C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Ngày 11/9/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B (nay là Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh P) ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Đặng Hồng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự”. Tuy nhiên, quá trình điều tra H đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 22/10/2024, CQĐT - Công an huyện B đã ra Quyết định tách vụ án hình sự. Ngày 05/12/2024 CQĐT - Công an huyện B đã ra quyết định truy nã đối với H.
Ngày 15/12/2025, Đặng Hồng H đã đến CQĐT - Công an tỉnh P đầu thú và khai báo về hành vi bán ma túy cho H2 ngày 27/3/2024.
Quá trình điều tra xác định: Về nguồn gốc số ma túy H bán cho H2 là do trong khi dọn dẹp quán karaoke, H đã nhặt được (không biết là của ai) rồi cất giấu trên người mục đích nếu có ai hỏi mua thì bán, khi H2 gọi điện hỏi mua ma túy do có sẵn ma tuý nên H đồng ý bán cho Hằng số ma túy trên.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động của H, quá trình bỏ trốn H đã làm rơi, do đó Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Đối với số tiền 2.600.000đồng mà H bán ma túy cho H2 mà có, H đã chi tiêu hết số tiền trên.
Đối với Vũ Đình H3, Đào Thu H2, Trần Thị C và phần xử lý vật chứng đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HSST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Phú Thọ) và Bản án hình sự phúc thẩm số 50/2025/HS-PT ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ).
Tại cơ quan điều tra, Đặng Hồng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 119/CT-VKS ngày 05/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Phú Thọ đã truy tố bị cáo Đặng Hồng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Phú Thọ trình bày luận tội đối với bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Hồng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hồng H từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2025 đến ngày 18/12/2025. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.600.000đồng mà bị cáo đã tự nguyện giao nộp. Về án phí, đề nghị buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện: Khoảng 22 giờ ngày 27/3/2024, tại TDP M, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn M, xã B, tỉnh Phú Thọ) Đặng Hồng H có hành vi bán 02 viên ma túy kẹo và 01 chỉ ma túy ke (loại ma túy ketamine) cho Đào Thu H2 thu được số tiền 2.600.000đồng, H đã chi tiêu hết số tiền trên. Sau khi mua được ma túy, H2 cùng H3, C, Thu H4, Mai H5 đã sử dụng hết số ma túy trên. Sau khi sự việc bị phát hiện, H đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 15/12/2025, H đã đến CQĐT - Công an tỉnh P đầu thú và khai báo về hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù.
Tuy nhiên, Đặng Hồng H thực hiện hành vi phạm tội ngày 27/3/2024 (trước thời điểm Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự có hiệu lực). Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, các quy định không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà sau thời điểm đó mới xét xử. Vì vậy, Đặng Hồng H được áp dụng khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm tù theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2024). Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”…
[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội. Ngoài ra, ma túy là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức phạt tù nghiêm khắc, mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Mặc dù nhận thức rõ về tác hại của ma túy nhưng do hám lợi và muốn kiếm tiền bất chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đến cơ quan công an để đầu thú; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự từ tháng 02 năm 2021 đến tháng 01 năm 2023 và có thành tích xuất sắc được Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh V tặng danh hiệu Chiến sỹ tiên tiến; trước phiên tòa, bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Phú Thọ để đảm bảo thi hành án sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Đối với Vũ Đình H3, Đào Thu H2, Trần Thị C và phần xử lý vật chứng đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HSST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Phú Thọ) và Bản án hình sự phúc thẩm số 50/2025/HS-PT ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ), các bản án đã có hiệu lực thi hành nên Hội đồng xét xử không xem xét về hành vi của H3, H2, C và vật chứng của vụ án.
[7] Đối với số tiền 2.600.000đồng mà H bán ma túy cho H2 mà có, H đã chi tiêu hết số tiền trên. Ngày 16/3/2026 H đã tự nguyện nộp lại số tiền trên tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Phú Thọ. Số tiền trên do H phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Hồng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hồng H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/12/2025 đến ngày 18/12/2025.
2. Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.600.000đồng của Đặng Hồng H (Đặng Hồng H đã tự nguyện nộp tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Phú Thọ theo Biên lai thu tiền số 0000966 ngày 16/3/2026 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Phú Thọ).
3. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đặng Hồng H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND Khu vực 8 - Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan THAHS - Công an tỉnh Phú Thọ; - UBND xã Bình Xuyên, tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo, người có QLNVLQ; - Lưu VP, HSVA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Thúc Giang Doãn Thị Vệ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Hoàng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Hoàng |