- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì VĂn S - Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự HĐXX
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2026/HS-ST Ngày 18-5-2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Minh Xuân và ông Hà Chí Thanh.
- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Văn Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4
- Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2026/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2026, và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2026/HSST-QĐ ngày 06/5/2026 đối với bị cáo:
Vì Văn S, sinh ngày 19/5/2000, tại xã C, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Bản C, xã C, tỉnh Sơn La; Số CCCD 014200011275; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn T, sinh năm 1964 và bà Vì Thị M, sinh năm 1971; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, Tiền Sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2025 đến nay. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vì Thị T, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Bản C, xã C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/12/2025, Vì Văn S mang theo số tiền 500.000 đồng, một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 26AA-470.23 đi từ nhà ở bản C, xã C, tỉnh Sơn La đến khu vực bản Ta N, phường M, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực bản Đ, xã C, tỉnh Sơn La, bị cáo gặp và mua được của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) 06 viên Hồng phiến được gói bằng nilon màu hồng với giá 500.000 đồng. Mua được ma túy, bị cáo cầm trên tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi về tìm nơi sử dụng, khi đi đến khu vực bản Nà Khoang, xã C thì bị tổ công tác Công an xã C phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.
Ngày16/12/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Vì Văn S, kết quả:
Khối khối lượng 06 viên nén màu hồng là 0,6 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu A trưng cầu giám định.
Cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 5430/QĐ-CSMT trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định: Mẫu gửi giám định có phải là ma túy không? Loại ma túy gì? Khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?
Tại bản kết luận giám định số 33/KL-KTHS ngày 19/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“- Mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,6 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,6 gam; Loại Methamphetamine”
Về nguồn gốc ma túy bị thu giữ, Vì Văn S khai mua của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực bản Đ, xã C, tỉnh Sơn La. Việc mua bán không có ai cùng tham gia, chứng kiến. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc Vì Văn S phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối 0,6 gam Methamphetamine thu giữ trong vụ án.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 26AA-470.23 thu giữ khi bắt quả tang Vì Văn S. Quá trình điều tra xác định là tài sản của Vì Thị T, sinh năm 1994, trú tại bản C, xã C, tỉnh Sơn La (là chị dâu của Sinh). Việc Sinh sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy, Thơ không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không đặt vấn đề xử lý đối với Thơ. Ngày 10/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã trả lại chiếc xe trên cho Vì Thị T quản lý, sử dụng.
Về vật chứng còn lại: 01 phong bì niêm phong của Công an tỉnh Sơn La, mặt trước ghi “ 01 túi nilon màu hồng vật chứng ban đầu vụ Vì Văn S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 15/12/2025 tại bản Nà Khoang, xã C, tỉnh Sơn La”, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La quyết định chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 - Sơn La bảo quản chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 16/CT-VKSKV4 ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Sơn La truy tố Vì Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Vì Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mua tổng số 0,6 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
* Tranh luận tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:
Tuyên bố bị cáo Vì Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vì Văn S từ 38 đến 42 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2025 là ngày bắt tạm giữ đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi nilon màu hồng.
- Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn S.
Ý kiến của bị cáo Vì Văn S tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì thêm.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vì Thị T đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và đã có lời khai trong quá trình điều tra, do đó việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 15/12/2025 bị cáo Vì Văn S có hành vi mua và cất giấu trái phép 0,6 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng. khi đang trên đường quay về nhà đến địa phận bản Nà Khoang, xã C, tỉnh Sơn La, thì bị tổ công tác Công an xã C, tỉnh Sơn La kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của Vì Văn S toàn bộ vật chứng liên quan.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã C lập; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; Kết luận giám định số: 33/KL- KTHS ngày 19/13/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La…
Lời khai nhận tội của bị cáo Vì Văn S tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh nêu trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vì Văn S đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La truy tố đối với bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Vì Văn S thực hiện hành vi phạm tội với tổng khối lượng ma túy tàng trữ trái phép là 0,6 gam Methamphetamine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Methamphetamine .... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo Vì Văn S là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vì Văn S thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về mức hình phạt áp dụng: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ, sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng vì vậy cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đảm bảo biện pháp giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo Vì Văn S còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự “...người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo Vì Văn S không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 01 túi ni lon màu hồng gói ma túy ban đầu, xét thấy đây là loại vật chứng liên quan đến việc phạm tội của bị cáo và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc ma túy bị thu giữ, bị cáo Vì Văn S khai mua của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực bản Đ, xã C, tỉnh Sơn La, việc mua bán không có ai cùng tham gia, chứng kiến do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc Vì Văn S phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối 0,6 gam Methamphetamine thu giữ trong vụ án.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 26AA-470.23 thu giữ khi bắt quả tang Vì Văn S, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Vì Thị T, sinh năm 1994, trú tại bản C, xã C, tỉnh Sơn La (là chị dâu của Sinh). Việc bị cáo sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy chị Vì Thị T không biết do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không đặt vấn đề xử lý đối với chị Thơ. Ngày 10/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã trả lại chiếc xe trên cho chị Vì Thị T quản lý, sử dụng, việc trao trả tài sản trên là đúng quy định của pháp luật nên được HĐXX cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Vì Văn S là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:
Tuyên bố bị cáo Vì Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vì Văn S 40 (Bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2025 (Ngày bắt tạm giữ bị cáo).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 túi ni lon màu hồng gói ma túy ban đầu.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 65/BB-PTHADS, ngày 16/04/2026 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn S.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 18/5/2026).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. [Nơi nhận:
| - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND Khu vực 4 - Sơn La; - Công an tỉnh Sơn La; - Trại giam; - Chi cục THADS Khu vực 4 - Sơn La; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Văn Hải THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Hải |