vanban.org

Bản án 77/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn N phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Quàng Văn N 03 (ba) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 11/01/2026. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn N - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn N phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2026/HS-ST
Ngày 19/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Văn Dinh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Khải.

2. Bà Lò Thị Vinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2, Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Điện Biên tiến hành mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2026/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2026. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Quàng Văn N (Tên gọi khác: Không có tên gọi khác) - Sinh năm: 1996. Tại tỉnh Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản H P, xã T A, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quàng Văn T và bà Lò Thị X.

Vợ: Lò Thị Chuyên - Sinh năm: 2000, đã ly hôn năm 2022. Bị cáo có 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị cơ quan Nhà nước nào xử lý vi phạm hành chính. Chưa bị Tòa án xét xử. Ngày 11/01/2026, bị tổ công tác Công an tỉnh Điện Biên bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bị bắt tạm giữ từ ngày 11/01/2026, tạm giam từ ngày 19/01/2026 đến nay có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 11/01/2026, Quàng Văn N một mình đi bộ từ nhà đến khu vực nương lúa thuộc bản H P, xã T A, tỉnh Điện Biên mục đích tìm mua Heroine để bán và sử dụng. Tại đây, N gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng. Mua xong, N cất gói Heroine vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Hồi 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi N vừa về đến nhà của N ở bản H P, xã T A, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi áo khoác bên phải N đang mặc 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 1,86 gam Heroine.

Vật chứng thu giữ gồm: 1,86 gam Heroine đã gửi toàn bộ giám định, vật chứng hoàn lại sau giám định là 1,68 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu trắng.

Tại bản Kết luận giám định số: 59/KL-KTHS ngày 16/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu gửi giám định thu giữ của Quàng Văn N có khối lượng 1,86 gam là chất ma túy: Loại Heroine.

Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Bị cáo khai số ma túy bị thu giữ bị cáo mua được của 01 người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên đã tiến hành khám xét nơi ở của bị cáo, quá trình khám xét không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu gì thêm.

Sau khi bắt quả tang Quàng Văn N, Cơ quan cảnh sát điều tra đã test nhanh nước tiểu của bị cáo, kết quả dương tính với chất ma túy. Nhưng bị cáo không thuộc trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Ngày 06/4/2026 Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định số: 23/QĐ-XPHC về xử phạt vi phạm hành chính: Hình thức xử phạt chính: Cảnh cáo đối với bị cáo.

Tại bản cáo trạng số: 19/CT-VKSDBN-KV, ngày 10 tháng 04 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điện Biên đã truy tố N về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo N về cả tội danh và điều luật áp dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo không có tiền án, tiền sự, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Quàng Văn N từ 03 (ba) năm 05 (năm) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với 1,68 gam Heroine còn lại sau khi giám định; 01 mảnh nilon màu trắng, đã qua sử dụng là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo xin được miễn hình phạt bổ sung, lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo Quàng Văn N khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng, bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Ngày 11/01/2026, tại khu vực nương lúa của bản H P, xã T A, tỉnh Điện Biên, bị cáo mua được 01 gói Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên địa chỉ với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất giấu trong túi áo bên phải đang mặc quay về đến nhà thì bị tổ công tác Công an tỉnh Điện Biên bắt quả tang, bị cáo có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 1,86 gam, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điện Biên theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm”.

[2] Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thừa nhận rằng khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ ma túy là một chất gây nghiện, gây tổn hại cho sức khỏe của con người cả về thể xác và tinh thần, là nguồn cơn, gốc rễ gây nên nhiều tệ nạn xã hội khác. Chính quyền địa phương cũng như trên thông tin đại chúng luôn tuyên truyền về tác hại của ma túy đối với cơ thể con người, cũng như chính sách của Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng bị cáo vẫn bất chấp tất cả, coi thường pháp luật cố tình thực hiện mua ma túy về nhằm mục đích vừa thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân, vừa kiếm lời trái pháp luật. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Do vậy cần phải xử lý thật nghiêm khắc đối với bị cáo, để răn đe phòng ngừa chung đối với toàn xã hội, khi ma túy vẫn đang là nguyên nhân đe dọa sự ổn định về cuộc sống cũng như về tài sản của mọi người.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

[3] Xét về nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Quàng Văn N sinh ra và lớn lên được bố mẹ nuôi dưỡng, đi học hết lớp 9/12 sau đó nghỉ học ở nhà lao động sản xuất phụ giúp gia đình. Đến tuổi trưởng thành xây dựng gia đình riêng. Bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, trong cuộc sống do không chịu rèn luyện bản thân, tu trí làm ăn lương thiện, bị cáo lười lao động chỉ thích đua đòi bạn bè lao vào con đường nghiện chất ma túy, để thỏa mãn cho nhu cầu và có tiền chi tiêu bản thân bị cáo cố tình mua ma túy về tàng trữ để sử dụng và bán kiếm lời trái pháp luật, nên cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bản thân bị cáo không có tiền án, tiền sự, vợ chồng bị cáo đã ly hôn hiện bị cáo là người nuôi con nhỏ. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Như vậy đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp cần được xem xét chấp nhận. Vậy khi quyết định hình phạt HĐXX cần xét, trong cuộc sống việc tuân thủ pháp luật, nhân thân, khối lượng ma túy, hành vi mà bị cáo đã thực hiện và ý kiến của bị cáo tại phiên tòa. Do đó cần thiết áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ bị cáo đã gây ra, để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Qua biên bản xác minh của cơ quan điều tra thì gia đình bị cáo thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp, bị cáo không có việc làm ổn định, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy khó có khả năng thi hành án. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 6 Điều 251 Bộ luật hình sự là phù hợp.

[5] Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 1,68 gam Heroine còn lại sau khi giám định; 01 mảnh nilon màu trắng đã qua sử dụng là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên, địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của bị cáo, nhưng không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu gì. Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo khai bị cáo mua ma túy về mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, nhưng sau khi mua được ma túy bị cáo chưa được sử dụng thì bị bắt. Kết quả test nhanh nước tiểu của bị cáo có dương tính với chất ma túy. Tuy nhiên bị cáo không thuộc trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định số: 23/QĐ-XPHC về xử phạt vi phạm hành chính, hình thức xử phạt chính: Cảnh cáo đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, do đó căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Xét về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điều tra viên, Kiểm sát viên, từ khi khởi tố vụ án, quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đảm bảo về hình thức, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn N phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Quàng Văn N 03 (ba) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 11/01/2026.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 1,68 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu trắng đã qua sử dụng.

Số vật chứng trên đã được niêm phong và bàn giao theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2, Điện Biên vào ngày 10/4/2026.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 19/5/2026.

Cỡ chữ