- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2026/HSST ngày 24/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - QT
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 259 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2026/HS-PT Ngày 28/9/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QT
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hg Thị Thanh Nhàn
Các Thẩm phán: Ông Dương Viết Hải và bà Lê Hoài Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Diểm Ý – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh QT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QT tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Tấn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh QT xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 122/2026/TLPT-HS ngày 04 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo Lê Ngọc T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2026/HS-ST ngày 24/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - QT; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2026/QĐXXPT-HS ngày 14 tháng 9 năm 2026 của Tòa án nhân dân tỉnh QT.
Bị cáo có kháng cáo: Lê Ngọc T, sinh ngày 05 tháng 8 năm 1979 tại xã Trường Phú, tỉnh QT. Căn cước công dân số: 044079005577, cấp ngày 14/9/2021. Nơi cư trú: Thôn Thạch Bàn, xã Trường Phú, tỉnh QT; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc Hiệc và bà Hg Thị Sáu; có vợ Phan Thị Tuyết Liên và 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/02/2026 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Những người tham gia tố tụng khác:
1. Bị hại: Chị Trần Thị H (đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Lê Văn H (chồng của bị hại), sinh năm: 1974. Đại chỉ: Thôn Văn Xá, xã Trường Phú, tỉnh QT. Có mặt.
2. Người bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc T: Ông Nguyễn Thái Tiệp, Trưởng VPLS Thái Tiệp, thuộc Đoàn luật sư tỉnh QT. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30, ngày 13/10/2025, Lê Ngọc T, sinh năm 1979, trú tại thôn Thạch Bàn, xã Trường Phú, tỉnh QT điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 73H1 - 283.51 chạy trên đường bê tông liên xã Trường Phú, tỉnh QT theo hướng Tây - Đông, khi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn Văn Xá, xã Trường Phú, tỉnh QT do không chú ý quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn đã để phần đầu bên phải xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 73H1 - 283.51 do T điều khiển va chạm với chị Trần Thị H, sinh năm 1979, trú tại thôn Văn Xá, xã Trường Phú, tỉnh QT đang đi bộ phía trước cùng cH. Hậu quả, chị Trần Thị H bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Lệ Thủy sau đó được chuyển đến Bệnh viện hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới, đến ngày 14/10/2025 thì tử vong; Lê Ngọc T bị thương, xe mô tô (BKS) 73H1 - 283.51 bị hư hỏng.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 1461/KL-PY ngày 19/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh QT, kết luận nguyên nhân chết của chị Trần Thị H, sinh năm 1979, trú tại thôn Văn Xá, xã Trường Phú, tỉnh QT: Đa chấn thương đã điều trị không hồi phục.
Kết quả kiểm tra, xét nghiệm nồng độ cồn đối với Lê Ngọc T: Tại phiếu xét nghiệm số 33652 ngày 13/10/2025 của Bệnh viện đa khoa khu vực Lệ Thủy kết luận nồng độ rượu trong máu của Lê Ngọc T: Định lượng ethanol trong máu (<=11(mmol/L)), kết quả xét nghiệm: 63.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh QT đã tạm giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 73H1 – 283.51; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số Y305718 mang tên Lê Ngọc T, do Sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình cấp ngày 01/11/2012; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 011286, chủ xe Lê Ngọc T, do Công an huyện Lệ Thủy cấp ngày 07/10/2016; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô, xe máy số AA25/124736 của xe mô tô BKS 73H1 – 283.51.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Ngọc T và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng), các bên cam kết chấm dứt phần dân sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2026/HS-ST ngày 24/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - QT quyết định: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 114 Luật Thi hành án dân sự; các Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1/ Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ,
2/ Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04/8/2026, bị cáo Lê Ngọc T có đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Đồng thời, nộp các tài liệu: Đơn đề nghị xác nhận của anh Lê Ngọc T gửi Uỷ ban nhân dân xã Trường Phú, tỉnh QT xác minh việc anh đã tích cực tham gia các hoạt động phòng, chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn và khắc phục hậu quả bão lũ khi địa phương huy động, đặc biệt trong đợt bão lũ lịch sử năm 2020.
Tại phiên tòa phúc thẩm: bị cáo Lê Ngọc T giữ nguyên kháng cáo đề nghị giảm nhẹ mức hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện lao động khắc phục hậu quả đã gây ra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 42/2026/HS-ST ngày 24/7/2026 của Toà án nhân dân khu vực 4 – QT.
Ý kiến của luật sư tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo do bị cáo có đủ điều kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp với các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Vào khoảng 20 giờ 30, ngày 13/10/2025, Lê Ngọc T, sinh năm 1979, trú tại thôn Thạch Bàn, xã Trường Phú, tỉnh QT điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 73H1 - 283.51 chạy trên đường bê tông liên xã Trường Phú, tỉnh QT theo hướng Tây - Đông, khi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn Văn Xá, xã Trường Phú, tỉnh QT do không chú ý quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn đã để phần đầu bên phải xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 73H1 - 283.51 do T điều khiển va chạm với chị Trần Thị H, sinh năm 1979, trú tại thôn Văn Xá, xã Trường Phú, tỉnh QT đang đi bộ phía trước cùng cH. Hậu quả, chị Trần Thị H bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Lệ Thủy sau đó được chuyển đến Bệnh viện hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới, đến ngày 14/10/2025 thì tử vong. Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà là phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu đã được thu thập hợp pháp tại hồ sơ vụ án. Như vậy, Toà án nhân dân khu vực 4 – QT xét xử bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Lê Ngọc T, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có bố là người có công với nước, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự sau đó xuất ngũ về địa phương; đã được cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp.
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã cung cấp cho Toà án đơn trình bày việc bị cáo đã tích cực tham gia các hoạt động phòng, chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn và khắc phục hậu quả bão lũ khi địa phương huy động, đặc biệt trong đợt bão lũ lịch sử năm 2020, được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, mới phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm cần xem xét cho bị cáo.
Trên cơ sở đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, quá trình nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy, cần chấp nhận đề xuất của luật sư, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2026/HS-ST ngày 24/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - QT theo giảm một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo Lê Ngọc T kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2026/HSST ngày 24/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - QT
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Toà án, xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T 12 (mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt đi thi hành án.
3. Về án phí: Bị cáo Lê Ngọc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh QT;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Phòng PV06-Công an QT;
- TAND KV4 - QT;
- Phòng THADS khu vực 4 - QT;
- Bị cáo;
- Lưu: HSVA, Toà HS.
Hg Thị Thanh Nhàn
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Hg Thị Thanh Nhàn TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH QT
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào lúc.......giờ.......phút, ngày 28 tháng 9 năm 2026, tại phòng nghị án.
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Hg Thị Thanh Nhàn.
Thẩm phán: ông Dương Viết Hải và bà Lê Hoài Thủy
Tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 122/2026/HS-PT ngày 04 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo Lê Ngọc T, bị Toà án nhân dân Khu vực 4, tỉnh QT xử phạt về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS với mức hình phạt 18 (mười tám) tháng tù.
Căn cứ Điều 259 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí, đạt 100%.
2. Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí, đạt 100%.
3. Về nội dung:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc T, sửa Bản án sơ thẩm. Xử phạt Lê Ngọc T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí, đạt 100%.
5. Các vấn đề khác
5.1. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí, đạt 100%.
5.2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí, đạt 100%.
5.3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí, đạt 100%.
Biên bản nghị án kết thúc vào hồi…….giờ……phút ngày 28 tháng 9 năm 2026 đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe nhất trí và ký tên.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THÀNH VIÊN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA