vanban.org

Bản án 77/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Phú Q về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với bà Nguyễn Thị Cẩm T.

Về hôn nhân: Ông Huỳnh Phú Q được ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm T Nuôi con chung: Giao con chung tên Huỳnh Phú T1, sinh ngày 18/02/2023 cho ông Huỳnh Phú Q trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Cẩm T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "A - B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Phú Q về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với bà Nguyễn Thị Cẩm T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5-TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 29-5-2026.
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mai Thị Bỉ.

2. Ông Đặng Văn Bé.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Quê – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh.

Ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 38/2026/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 01 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Phú Q, sinh ngày 03/8/1995. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Số H, ấp M, xã A, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 23/4/2001. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxx. Địa chỉ: Số H, ấp L, xã A, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Huỳnh Phú Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nhưng theo đơn khởi kiện có nội dung như sau: Do quen biết và có thời gian tìm hiểu, ông và bà Nguyễn Thị Cẩm T được gia đình chấp nhận và có đăng ký kết hôn ngày 23/10/2019 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện C, tỉnh Long An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với gia đình chồng đến năm 2023 ông và bà T xây nhà sinh sống riêng.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi nhau. Bà T bỏ nhà sinh sống nơi khác từ khoảng tháng 11/2025 cho đến nay. Ông nhiều lần liên lạc để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Ông thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm T.

Nuôi con chung: Ông và bà T có 01 con chung tên Huỳnh Phú T1, sinh ngày 18/02/2023, hiện con chung đang sống chung với ông. Khi ly hôn ông Q yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Ông Q xác định không yêu cầu giải quyết.

Nghĩa vụ trả nợ: Không có.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Huỳnh Phú Q có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm T, hiện bà T đang sinh sống tại xã A, tỉnh Tây Ninh nên đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn, vì nhận thấy rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể giải quyết, tình cảm vợ chồng không còn, khả năng vợ chồng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét, hôn nhân giữa ông Q và bà T có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã D, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã A, tỉnh Tây Ninh) cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/10/2019, đây là hôn nhân hợp pháp, sẽ được giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành các thủ tục về cấp, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà T nhưng bà T không có ý kiến gì. Điều này chứng minh bà T không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa hai bên. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của ông Q có cơ sở chấp nhận.

Nuôi con chung: Ông Q và bà T có 01 con chung tên Huỳnh Phú T1, sinh ngày 18/02/2023. Sau khi ly hôn, ông Q yêu cầu được nuôi con chung. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, cháu T1 đã hơn 36 tháng tuổi nhưng chưa đủ 07 tuổi. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, cháu T1 không thuộc trường hợp ưu tiên giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng và cũng không thuộc trường hợp phải xem xét nguyện vọng của cháu theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Xét thấy, vì lợi ích của con chung, đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, tình cảm, học tập và sinh hoạt hàng ngày của cháu T1 hiện đang sinh sống với ông Q nên Hội đồng xét xử quyết định giao Huỳnh Phú T1 cho ông Huỳnh Phú Q trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Q không yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Chia tài sản chung: Ông Q xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nghĩa vụ trả nợ: Ông Q xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Phú Q về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với bà Nguyễn Thị Cẩm T.

1. Về hôn nhân: Ông Huỳnh Phú Q được ly hôn với bà Nguyễn Thị Cẩm T

2. Nuôi con chung: Giao con chung tên Huỳnh Phú T1, sinh ngày 18/02/2023 cho ông Huỳnh Phú Q trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Cẩm T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung, cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Phú Q phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân sung vào ngân sách nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001884 ngày 26/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Ông Q đã nộp đủ tiền án phí.

4. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ