- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:77/2025/HSST Ngày: 04/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Mạnh Cường
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lộc và bà Phạm Thị Lan
Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/HSST-QĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 67/2025/HSST-QĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T (theo bị cáo trình bày tại phiên toà, bị cáo không có tên gọi khác), sinh năm 1999, tại Đắk Nông; số căn cước công dân: 067099005077; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông; Giới tính: Nam; Trình độ văn hoá: 9/12. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Công giáo; Họ tên cha: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1973; Họ tên mẹ: Trần Thị Thùy T, sinh năm 1978; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 26/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt)
+/ Bị hại: Bà Lê Thị Kim C (đã chết)
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Lê Thị T, sinh năm 1950; anh Nguyễn Duy V, sinh năm 1994 và chị Lê Thị Thùy Tr, sinh năm 2005.
Cùng địa chỉ: Khu phố N, phường S, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
+/ Bị đơn dân sự: Công ty TNHH B
Địa chỉ: D7/40A, ấp 4, xã B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của công ty: Bà Nguyễn Thị H – chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn M (theo giấy ủy quyền ngày 22/12/2024).
(Người đại diện hợp pháp của bị hại và bị đơn dân sự vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 20/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn T (có giấy phép lái xe hạng C, số 670190000485 cấp ngày 01/02/2021 của Sở giao thông vận tải tỉnh Đ, mang tên Nguyễn Văn T) điều khiển xe ô tô vi téc (chở nhựa đường nóng lỏng) biển số 51D-667.40 dừng trước khu vực cổng nhà máy Công ty Milwaukee Hand Tool D, bên lề trái đường số 4 tạm thời theo hướng Ngã 5 đường ĐT769 vào phía trong khu công nghiệp D (đậu ngược đường), cách lề trái khoảng 01 mét (đầu xe hướng về phía trong khu công nghiệp, đuôi xe hướng về ngã 5 đường ĐT769) tại khu Công nghiệp D thuộc khu phố P, thị trấn D, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Do vị trí đang dừng xe 51D-667.40 thuộc khu vực phải thi công, bị cáo T đã bật tín hiệu điều khiển xe ô tô biển số 51D-667.40 lùi ra hướng ngã 5 đường ĐT769. Tuy nhiên do không quan sát phía sau, không đảm bảo an toàn nên xe ô tô do bị cáo điều khiển đã va đụng vào bà Lê Thị Kim C (sinh năm 1976, trú tại khu phố N, phường S, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai là người làm thuê quét dọn tại công trình) đang đứng phía sau đuôi xe khiến bà C ngã xuống và bị bánh sau bên trái xe ô tô biển số 51D-667.40 cán qua người, qua đầu của bà C. Hậu quả làm bà C tử vong tại chỗ.
Kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của bị cáo Nguyễn Văn T bằng thiết bị nghiệp vụ là 0,000mg/L khí thở; chất ma túy: âm tính.
Căn cứ Kết luận giám định số: 393/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai đối với: Nguyên nhân tử vong của bà Lê Thị Kim C, sinh năm 1976, hộ khẩu thường trú: khu phố N, phường S, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, kết luận:
“Kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương
Chấn thương sọ não gây vỡ toàn bộ xương hộp sọ, giập thoát tổ chức não ra ngoài.
Chấn thương mặt gây gãy toàn bộ xương hàm mặt.
Chấn thương ngực kính gây gãy sụp toàn bộ cung sau xương sườn bên phải”.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
+/ Xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe ô tô biển số 51D-667.40 và các giấy tờ theo xe có nguồn gốc hợp pháp, 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe biển số: 51D-667.40, 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe biển số 51D-667.40, cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu.
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số 670190000485 cấp ngày 01/02/2021 của Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông, mang tên Nguyễn Văn T, đề nghị Toà án tuyên trả lại cho chủ sở hữu.
+/ Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã bồi thường số tiền 150.000.000đồng cho gia đình nạn nhân, bà Lê Thị T, anh Nguyễn Duy V và chị Lê Thị Thùy Tr là người đại diện cho bà Lê Thị Kim C đã làm đơn xin bãi nại và không yêu cầu bồi thường về dân sự sau này.
Tại Cáo trạng số 50/CT.VKSTN-HS ngày 10/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất giữ nguyên quan điểm về nội dung vụ án, tội danh, khung hình phạt đã truy tố đối với bị cáo. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, đại diện bị hại đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động duy nhất trong gia đình.
Từ những căn cứ trên, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm.
Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng vụ án và án phí.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị đối với bị cáo và không có ý kiến, tranh luận gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình trái pháp luật, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ 10 phút ngày 20/12/2024, tại trước khu vực cổng nhà máy Công ty Milwaukee Hand Tool D, bên lề trái đường số 4 tạm thời khu công nghiệp D thuộc khu phố P, thị trấn D, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô xi téc biển số 51D-667.40 chạy lùi không quan sát phía sau, không đảm bảo an toàn làm xe ô tô biển số 51D-667.40 đụng phải bà Lê Thị Kim C đang đứng phía sau đuôi xe. Hậu quả bà C ngã xuồng đường và bị xe ô tô biển số 51D-667.40 cán qua người, qua đầu làm bà C tử vong tại chỗ.
Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã vi phạm khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết người. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố hành vi như trên của bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, đại diện bị hại đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bản thân bị cáo và gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình các nội dung trên được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng để xem xét cho bị cáo khi lượng hình.
Bị cáo khi lùi xe tuy đã bật tín hiệu nhưng thiếu quan sát phía sau, không đảm bảo an toàn khi lùi xe. Bị hại có một phần lỗi đứng phía sau xe ô tô tải là nguồn nguy hiểm cao độ, không quan sát để ý khi bị cáo bật tín hiệu lùi xe để tránh từ đó dẫn đến hậu quả như trên. Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo là đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Tuy nhiên cần áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cấm bị cáo Nguyễn Văn T hành nghề lái xe trong khoảng thời gian nhất định kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- 01 (một) xe ô tô biển số 51D-667.40 và các giấy tờ kèm theo xe gồm 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe biển số: 51D-667.40 và 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe biển số 51D-667.40 do xe có nguồn gốc hợp pháp, cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu là đúng quy định.
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số 670190000485 cấp ngày 01/02/2021 của Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông, mang tên Nguyễn Văn T, cần trả lại cho bị cáo.
Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Về phần tội danh, điều khoản truy tố, hình phạt, trách nhiệm dân sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ và phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại và bị đơn dân sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[2] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[3] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Văn T trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[4] Cấm bị cáo Nguyễn Văn T hành nghề lái xe trong thời gian 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
[5]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giữ 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số 670190000485 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông, cấp ngày 01/02/2021 mang tên Nguyễn Văn T cho đến khi hết thời hạn cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo T.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/4/2025).
[6] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp bị hại và bị đơn dân sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Thống Nhất; - CCTHADS huyện Thống Nhất; - Công an tỉnh Đồng Nai (phòng hồ sơ); - Phân trại tạm giam khu vực Thống Nhất; - Phòng PC10 Công an tỉnh Đồng Nai - UBND xã T, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. - Bị cáo; Bị hại; Bị đơn dân sự - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Vũ Mạnh Cường |