- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS BA 77_250830_Tàng trữ ma túy_Đỗ Trần V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2025/HSST Ngày: 30-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10, TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Bích Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Lê Phong; ông Lê Văn Toàn.
Thư ký phiên tòa: bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: bà Lê Nguyễn Tuyết Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 38/2025/TLST-HS, ngày 14 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Đỗ Trần V; Giới tính: nam;
Sinh ngày 01 tháng 11 năm 1997, tại tỉnh Bình Thuận, nay là tỉnh Lâm Đồng.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: khu phố E, phường B, tỉnh Lâm Đồng.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam;Tôn giáo: không;
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không;
Con ông Đỗ Văn T, sinh năm 1971
Con bà Trần Thị Thu T1, sinh năm 1975
Hiện cùng trú: phường B, tỉnh Lâm Đồng.
Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình;
Tiền án, Tiền sự: không; Nhân thân: không.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 14/5/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại Tạm giam Khu vực số 1 thuộc Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh L.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 10/5/2025, Đỗ Trần V đi đến khu vực gần Trường Tiểu học P1 thuộc khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường P, tỉnh Lâm Đồng) gặp 01 người đàn ông (chưa rõ nhân thân) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, người đàn ông này đồng ý bán. V đưa số tiền 500.000 đồng, người đàn ông nhận tiền rồi đưa lại cho V 01 gói nylon bên trong chứa ma túy đá. Mua được ma túy, V cất giấu trong người đem về nhà để sử dụng.
Đến khoảng 23 giờ ngày 13/5/2025, V lấy gói ma túy đã mua trước đó, cất giấu trong lòng bàn tay trái, rồi dắt xe mô tô hiệu Wave, biển số 86H7-5265 và Nguyễn Hoàng P (sinh năm 1999, trú tại khu phố E, phường P, thành phố P, nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng) dắt xe mô tô biển số 70EA-4490. Khi cả hai dắt xe từ trong xưởng cưa Quang V1 ra trước khu vực Cổng xưởng cưa nằm trên đường T thuộc thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay phường B, tỉnh Lâm Đồng) thì Tổ tuần tra Công an xã P đi kiểm tra, phát hiện hỏi: “Đi đâu giờ này”, V trả lời: “Đây là nhà của tôi nên mở khóa cửa cổng đi vào lại trong xưởng cưa”. Tổ tuần tra tiến hành kiểm tra Nguyễn Hoàng P, không phát hiện gì, khi thấy P bị kiểm tra, V đi vào đứng gần Cổng xưởng cưa Quang V1, Tổ tuần tra kiểm tra V, V lợi dụng trời tối, V thực hiện hành vi giũ mạnh chiếc áo khoác, đồng thời thả lòng bàn tay trái để gói nylon bên trong chứa túy đá rớt xuống nền đất, Tổ tuần tra kiểm tra túi áo phía trên bên trái của V, V nói: “Trong túi của tôi chỉ còn cốc sạc điện thoại thôi”, rồi V dùng tay phải lấy cốc sạc điện thoại ra và ném xuống dưới nền đất. Tổ tuần tra kiểm tra tại khu vực nơi V ném cốc sạc điện thoại thì phát hiện 01 gói nylon bên trong chứa túy đá của V, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng liên quan và đưa V, P về trụ sở làm việc.
Vật chứng của vụ án:
Thu giữ của Đỗ Trần Vũ G: 01 (một) gói nylon trong suốt, hàn kín, có nhíp kéo ở một đầu, kích thước (7,3 x 4,3)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (kí hiệu M khi giám định); 01 điện thoại di động hiệu IPhone, đã qua sử dụng (không kiểm tra cấu hình máy).
Đối với xe mô tô biển số 86H7-5265 và xe mô tô biển số 70EA-4490: tại thời điểm bắt quả tang, V và P đã xuất trình được Giấy đăng ký xe đầy đủ nên Tổ tuần tra Công an xã P không tạm giữ 02 xe mô tô nêu trên.
Qua điều tra, Đỗ Trần V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, số ma túy bị thu giữ là do V mua về để sử dụng. V và P đều khai nhận P không góp tiền, không biết V cất giữ ma túy.
Tại Kết luận giám định số 535 ngày 19/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 1,8392 gam; là Methamphetamine.
Xử lý vật chứng: đối với 01 gói nylon không màu, kích thước (7,3 x 4,3)cm; 1,7994 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 535, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Lâm Đồng ra Quyết định chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Lâm Đồng bảo quản, chờ xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu IPhone, đã qua sử dụng thu giữ của Đỗ Trần V, xác định đây là tài sản cá nhân của V, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho V.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 29/CT/VKSPT-HS ngày 12/8/2025, của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, tỉnh Lâm Đồng.
- Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố: bị cáo Đỗ Trần V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Trần V từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng đề nghị HĐXX xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, nói lời sau cùng bị cáo đã hối hận, biết sai trái xin HĐXX xem xét xử cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về căn cứ xác định hành vi: tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo được nêu trong Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Lâm Đồng là đúng thực tế. Nhận thấy lời khai của bị cáo là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: đây là vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” do Đỗ Trần V thực hiện. Vào lúc 23 giờ ngày 13/5/2025, tại trước khu vực Cổng xưởng cưa Q trên đường T thuộc thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng), Đỗ Trần V đã có hành vi cất giữ trái phép 1,8392 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Hành vi của Đỗ Trần V đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà N về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự , bị cáo V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo V có nhân thân tốt, đã thành khẩn khai báo, V có ông nội là người có công với cách mạng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, tỉnh Lâm đồng: về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 535 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
Người đàn ông bán ma túy cho V, do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.
Nguyễn Hoàng P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/NĐ-CP của Chính phủ nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ liên quan đến Công an phường B, tỉnh Lâm Đồng để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
. Tuyên bố: bị cáo Đỗ Trần V, phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Đỗ Trần V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/5/2025.
. Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 535 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
(Tất cả đều như biên bản về việc giao nhận vật chứng tài sản số: 29, ngày 19/8/2025 giữa Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 - Lâm Đồng).
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đỗ Trần V phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/8/2025).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Theo Điều 262 BLTTHS; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Ngọc |