- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn H - Bản án kháng cáo, y án sơ thảm ngày 13/7/2025 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cà Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2025/HS-ST Ngày: 09-5-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Tuân;
2. Ông Phạm Hữu Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Thái, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn H; tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Sinh ngày: 23/3/1985, tại: Huyện T, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn Ơ (đã chết) và con bà Quàng Thị K, sinh năm 1936; năm 2003 chung sống như vợ chồng với chị Cà Thị T, sinh năm 1986 và có 01 người con chung, bị cáo có vợ là chị Quàng Thị T1, sinh năm 1990 và có 01 người con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị xét xử tại Bản án số: 192/2004/HSST ngày 15/9/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 07 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 08/6/2010 chấp hành xong án phạt tù (bản án này đã được xóa án tích), chưa bị cơ quan Nhà nước xử phạt vi phạm hành chính lần nào. Bị tạm giữ ngày 19/12/2024, tạm giam từ ngày 28/12/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đình T2 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 19/12/2024, bị cáo Cà Văn H một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu sơn đen, biển kiểm soát 27T1-062.45 của bị cáo đi từ nhà tại bản T, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên đến bản Kép, xã C, huyện T mục đích để tìm mua ma túy sử dụng và bán kiếm lãi. Khi đến bản Kép, xã C bị cáo gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ, qua trao đổi bị cáo mua được của người đàn ông này 01 túi nilon màu hồng bên trong có chứa các viên ma tuý loại Methamphetamine với giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Mua được ma túy bị cáo cất giấu vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Hồi 09 giờ 40 phút cùng ngày, bị cáo Cà Văn H điều kiển xe máy đi đến khu vực bản Che Phai I, xã C, huyện T thì bị Tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Tổ công tác theo Kế hoạch 1266 Công an tỉnh Đ kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ trong túi áo khoác bên trái bị cáo đang mặc 01 túi nilon màu hồng, loại túi có mép dính, trên một mặt túi nilon có chữ A bên trong chứa các viên ma tuý loại Methamphetamine. Vật chứng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 18,32 gam Methamphetamine, gửi toàn bộ giám định chất ma túy; vật chứng hoàn lại sau giám định là 17,4 gam Methamphetamine, 01 túi nilon màu hồng, loại túi có mép dính, trên một mặt túi nilon có chữ A; 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER màu sơn đen, biển kiểm soát 27T1-062.45, số khung RLCUG0610HY406619, số máy G3D4E-425722, xe cũ đã qua sử dụng, kèm theo chìa khoá xe.
Tại bản Kết luận giám định số: 1884/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: “Vật chứng thu giữ của Cà Văn H có khối lượng 18,32 gam các viên nén màu hồng là chất ma tuý: Loại Methamphetamine”.
Tại bản Cáo trạng số: 41/CT-VKSTG ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố: Bị cáo Cà Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 10 năm 06 tháng đến 10 năm 09 tháng tù và không phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín có chứa 01 túi nilon màu hồng, loại túi có mép dính, trên một mặt túi nilon có chữ A và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Cà Văn H; 01 gói niêm phong bằng phong bì công văn của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, các mép đều được dán kín, chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 17,4 gam Methamphetamine; đối với 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER màu sơn đen, biển kiểm soát 27T1-062.45, số khung RLCUG0610HY406619, số máy G3D4E-425722, xe cũ đã qua sử dụng, kèm theo chìa khoá xe bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên xét xử bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và nhất trí với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét định mức hình phạt nhẹ nhất có thể, không phạt bổ sung bằng tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và các quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện T; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.
Về hành vi của bị cáo: Hồi 09 giờ 40 phút ngày 19/12/2024, tại bản Che Phai I, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, Tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Tổ công tác theo Kế hoạch 1266 Công an tỉnh Đ bắt người phạm tội quả tang thu giữ của bị cáo Cà Văn H 01 túi nilon chứa ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 18,32 gam, mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lãi. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng chất ma túy bị thu giữ thì bị cáo Cà Văn H đã phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
Về tính chất và mức độ của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo trực tiếp, tiếp tay cho những người chuyên mua bán trái phép các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm .... làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện T nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Năm 2004 bị cáo Cà Văn H bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 07 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 08/6/2010 chấp hành xong án phạt tù (bản án này đã được xóa án tích); tại Bản án số: 192/2004/HSST ngày 15/9/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên bị cáo có tên là Cà Văn P, nên Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chiếu, so sánh công thức vân tay của Cà Văn H1 và Cà Văn P; kết quả tra cứu trong Hệ thống nhận dạng vân tay tự động (VAFIS) và cơ sở dữ liệu quản lý thông tin nghiệp vụ do PV06 quản lý thể hiện: Vân tay của Cà Văn H đồng nhất với vân tay Cà Văn P. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi bị cáo thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng, bị cáo hoàn toàn hiểu biết, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích sử dụng. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Xét thấy nghề nghiệp của bị cáo là làm nông nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Kiểm sát viên đề nghị: Xét mức hình phạt Kiểm sát viên đã đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ, nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Người bào chữa đề nghị: Xét thấy mức hình phạt người bào chữa đề nghị cho bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 19/12/2024. Khi mua bán ma túy, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, không có cơ sở để điều tra, xác minh làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín có chứa 01 túi nilon màu hồng, loại túi có mép dính, trên một mặt túi nilon có chữ A và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Cà Văn H; 01 gói niêm phong bằng phong bì công văn của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, các mép đều được dán kín, chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 17,4 gam Methamphetamine là chất Nhà nước cấm tàng trữ cần tịch thu và tiêu hủy; đối với 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER màu sơn đen, biển kiểm soát 27T1-062.45, số khung RLCUG0610HY406619, số máy G3D4E-425722, xe cũ đã qua sử dụng, kèm theo chìa khoá xe. Quá trình điều tra cho thấy, nguồn gốc xe máy là do bị cáo mua của anh Nguyễn Minh D với giá 3.000.000 đồng vào khoảng tháng 11/2024, khi xe máy không có giấy tờ và không có biển kiểm soát; đến đầu tháng 12/2024 bị cáo nhặt được chiếc biển kiểm soát 27T1-062.45 đã gắn vào xe máy để tránh bị cơ quan Công an phát hiện xe máy không có biển kiểm soát; bị cáo sử dụng xe máy làm phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Lẽ ra bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo và tại phiên tòa xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cà Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cà Văn H 10 (mười) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 19/12/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín có chứa 01 túi nilon màu hồng, loại túi có mép dính, trên một mặt túi nilon có chữ A và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Cà Văn H; 01 gói niêm phong bằng phong bì công văn của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, các mép đều được dán kín, chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 17,4 gam Methamphetamine;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER màu sơn đen, biển kiểm soát 27T1-062.45, số khung RLCUG0610HY406619, số máy G3D4E-425722, xe cũ đã qua sử dụng, kèm theo chìa khoá xe.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/5/2025).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tuần Giáo; - CQCSĐT Công an tỉnh Điện Biên; - Phân trại tạm giam khu vực huyện Tuần Giáo - Trại tạm giam Công an tỉnh ĐB; - Phòng HSNV (PV06) Công an tỉnh ĐB; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Người bào chữa; - Bị cáo; - THAHS + Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Việt Hương |