- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thị C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy;
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2025/HS-ST Ngày 28-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Dung
Bà Bùi Thị Nhàn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gấm - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2 - Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Long Bảo - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2 - Hải Phòng.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Hải Phòng và điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 67/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Bùi Thị C, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1987 tại Thái Bình (Nay là tỉnh Hưng Yên); nơi cư trú: Thôn Q, xã A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đình A và bà Nguyễn Thị C; có chồng là Bùi Văn H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 16 tháng 7 năm 2025, chuyển tạm giam ngày 24 tháng 7 năm 2025; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thị C: Ông Nguyễn Đăng Khoa – Luật sư Văn phòng luật sư Á Đông thuộc Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 16/7/2025, tại trục đường 301 thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng, tổ công tác Công an thành phố Hải Phòng phát hiện bắt quả tang Bùi Thị C có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 15AC-012.14 C điều khiển 01 gói giấy màu trắng bên trong có 02 túi nilon màu xanh kích thước (1,5 x 0,7) cm và (2,5 x 1,5) cm đều chứa chất bột màu trắng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 15AC-012.14; 01 điện thoại di động Samsung. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Thị C, Cơ quan điều tra không thu giữ gì liên quan đến ma túy.
Kết quả xét nghiệm Bùi Thị C âm tính với các chất ma túy.
Kết luận giám định số 489/KL-KTHS ngày 22/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Ch t bột màu tr ng g i giám định là ma túy, có kh i lư ng: 0,61 gam, loại: Heroine .
Kết luận giám định số 2861/KL-KTHS ngày 05/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Xe máy mang bi n ki m soát: 15AC-012.14 có s khung và s máy là s nguyên thủy, không phát hi n th y có s tẩy xóa, s a chữa các ký t .
Quá trình điều tra Bùi Thị C, khai nhận: Trưa ngày 15/7/2025, C đang ăn trưa tại Công ty TP Link ở phường An Phong, thành phố Hải Phòng thì có một người phụ nữ không quen biết đến rủ C bán ma túy kiếm lời, C đồng ý. Người này h n khoảng 17 giờ ra cổng Công ty s có người khác giao ma túy cho Chúc. Khoảng hơn 17 giờ cùng ngày, C ra cổng Công ty gặp một người phụ nữ không quen biết và được người này bán cho 01 hộp giấy màu xanh bên trong có 01 gói giấy màu trắng b c 02 túi nilon chứa chất bột màu trắng là ma túy với giá 1.200.000 đồng. Sau khi nhận ma túy, C vất hộp giấy màu xanh bên ngoài còn gói ma túy mang vào cất giấu trong cốp xe mô tô 15AC-012.14. Khoảng hơn 06 giờ ngày 16/7/2025, C điều khiển xe mô tô 15AC-012.14 đi làm mang theo ma túy trong cốp mục đích ai mua s bán. Khi đi đến thôn Đ, xã A thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt người quả tang cùng vật chứng.
Cáo trạng số 12/CT-VKSKV2 ngày 27/10/2025, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Bùi Thị C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hải Phòng giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Bùi Thị C mức án từ 42 đến 48 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong số 489MT/PC09 trong có chứa ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật và chữ ký của những người có liên quan.
Đề nghị trả lại bị cáo 01 điện thoại Samsung bị xước, nứt màn hình đã qua sử dụng và không kiểm tra tình trạng, cấu hình điện thoại.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Không tranh luận về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai tàng trữ ma túy để bán nhưng chưa thực hiện hành vi mua bán ma túy. Mặt khác, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên đã đề xuất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về t tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 16/7/2025, Bùi Thị C có hành vi cất giữ trái phép 0,61 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an thành phố Hải Phòng bắt quả tang tại khu vực thôn Đồng Xuân 1, xã An Trường, thành phố Hải Phòng.
Hành vi của bị cáo Bùi Thị C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Hải Phòng đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trị an ở địa phương và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhi m hình s : Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình s : Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải nên được hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Lần phạm tội này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có 01 tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần xét xử bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc trên mức khởi điểm của khung hình phạt, buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Bùi Thị C phạm tội có tính chất vụ lợi nên cần căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung bị cáo hình phạt tiền theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư niêm phong số 489MT/PC09 trong có chứa ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật là đồ vật Nhà nước cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại Samsung không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề khác: Trong vụ án này, người phụ nữ bán ma túy cho Chúc hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy;
Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị C 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2025. Phạt bổ sung bị cáo Bùi Thị C số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong số 489MT/PC09 trong có chứa ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật và chữ ký của những người có liên quan.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại Samsung bị xước, nứt màn hình đã qua sử dụng và không kiểm tra tình trạng, cấu hình điện thoại.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Bùi Thị C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 2 - Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Bị cáo; Bị hại; đại diện theo pháp luật của bị cáo; đại diện theo pháp luật của bị hại; - Người bào chữa cho bị cáo; - Phòng PV06, PC10 CATP Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Phòng THADS Khu vực 2 - Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |