- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2025/HS-ST. Ngày: 08-09-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Ba.
Ông Trần Trọng Phú.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nông Đinh Triều - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Chinh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 09 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/HSST ngày 12 tháng 08 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 08 năm 2025 đối với bị cáo:
L, sinh năm 1989 tại Đồng Tháp; CCCD số 087089013549 ngày 30/05/2022; nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã T, tỉnh D; nơi ở: Ấp A, xã C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông H và bà L; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị bắt do phạm tội quả tang từ ngày 28/04/2025, tạm giữ ngày 29/04/2025 và chuyển tạm giam đến nay. (Có mặt)
- Người làm chứng: Anh V, sinh năm 2004, địa chỉ: ấp E, xã P, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
L là người nghiện ma túy, do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng nên vào khoảng 17 giờ ngày 27/4/2025, L thuê xe Grab đi đến khu vực Trường Đại học M Thành phố Hồ Chí Minh - cơ sở G thuộc thành phố N, tỉnh Bình Dương (nay là phường N, Thành phố Hồ Chí Minh) để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi L đi bộ xung quanh khu vực trên để gặp một người tên I (quen biết ngoài xã hội) hỏi mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng, I đồng ý bán. I nhận tiền và nói L đến gốc cây gần bên cổng trường Đại học M lấy gói ma túy. L lấy ma túy bỏ vào túi quần và thuê xe Grab đem về phòng trọ tại ấp A, xã U, huyện O, tỉnh Đồng Nai (nay là xã C, tỉnh Đồng Nai) cất giấu. Đến 22 giờ 00 phút ngày 28/4/2025, L lấy một phần ma túy ra để sử dụng, phần còn lại cất trên sàn ở góc nhà để lần sau sử dụng tiếp, khi đang sử dụng thì bị Công an xã U (nay là xã C) kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: 01 túi zip niLn kích thước 06cm x 08cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng.
Tại Kết luận giám định số 739/KL-KTHS ngày 03/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: "Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,4454 gam, Lại "Methamphetamine".
Tại Cáo trạng số: 25/CT-VKSKV2 ngày 01/08/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đồng Nai đã truy tố bị cáo L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); đề nghị xử phạt L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy được đựng trong 01 phong bì niêm phong sau giám định số 739/KL-KTHS ngày 03/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong cáo trạng, nội dung phân tích, luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa và không có ý kiến bào chữa gì thêm. Đồng thời, trong lời nói sau cùng, bị cáo cũng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.
Đối với người tên I (không rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho bị cáo L vào ngày 27/04/2025, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo và người tham gia tố tụng khác cung cấp là đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì về tính hợp pháp của các chứng cứ nên những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 27/04/2025, tại ấp 3, xã U, huyện O, tỉnh Đồng Nai )nay là ấp A, xã C, tỉnh Đồng Nai), L có hành vi tàng trữ 0,4454 gam ma túy Lại Methamphetamine thì bị lực lượng Công an xã U, huyện O, tỉnh Đồng Nai phát hiện bắt quả tang. Sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cùng các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo đã cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, hình phạt dành cho bị cáo phải nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội. Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy được đựng trong 01 phong bì niêm phong sau giám định số 739/KL-KTHS ngày 03/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đồng Nai và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Qua quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo L 01 (một) năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày 28/04/2025.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy được đựng trong 01 phong bì niêm phong sau giám định số 739/KL-KTHS ngày 03/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai (Số vật chứng này hiện đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Đồng Nai theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/08/2025).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
| - VKS ND cùng cấp; - VKS ND cấp trên; - CQ CSĐT; - CQ THA HS; - CQ THA DS; - UBND xã nơi b/c cư trú; - PV06; - Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Văn Ba – Trần Trọng Phú | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Nam THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Nam |