- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lư Tuấn A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu T A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lưu T A 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2025/HS-ST Ngày 28 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thương Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Anh Tuấn
Ông Tòng Văn Hưng
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Xuân Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lưu T A , sinh năm 1972; Nơi sinh: Tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú: Khu 13, xã T N , huyện T, tỉnh Ph (nay là: Khu 13, xã T, tỉnh Ph); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Đức M, đã chết và bà Nguyễn Thị T, đã chết; Vợ: Bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1974, có 02 con chung, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo chưa bị cơ quan nào xử phạt vi phạm hành chính và chưa bị Tòa án nào đưa ra xét xử.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại phân trại Trại giam Mường Thanh Công an tỉnh Điện Biên từ ngày 16/8/2025 cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm: 1974; Địa chỉ: Khu 13, xã T, tỉnh P (Có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 16/8/2025, Lưu T A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27B1-775.97 từ tỉnh U-Đôm-Xay, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đến huyện Mường Mày, tỉnh Phông-Sa-Lỳ, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại đây, T A gặp và hỏi mua được của một người đàn ông quốc tịch Lào (không biết tên, địa chỉ) 04 gói Heroine với giá 120.000 Kíp Lào. Mua xong, T A cất 04 gói Heroine vào túi quần bên phải đang mặc, rồi điều khiển xe về Cửa khẩu quốc tế Tây Trang để làm thủ tục nhập cảnh về Việt Nam. Hồi 14 giờ cùng ngày, khi T A điều khiển xe đến cửa khẩu Quốc tế Tây Trang thuộc bản Ca Hâu, xã Sam Mứn, tỉnh Điện Biên, để nhập cảnh về Việt Nam thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Tây Trang - Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên phối hợp với lực lượng Hải quan Cửa khẩu Quốc tế Tây Trang phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên phải T A đang mặc 04 gói nilon màu hồng, đều chứa Heroine có tổng khối lượng 2,2gam.
Vật chứng thu giữ gồm: 2,2 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ và hoàn lại mẫu sau giám định 1,83 gam; 04 mảnh nilon màu hồng; 01 hộ chiếu mang tên Lưu T A; 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1-775.97 kèm 01 chìa khoá và đăng ký xe mang tên Chu Văn Khánh là xe T A mua nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ; 01 hợp đồng mua bán xe.
Tại bản kết luận giám định số: 838/KL-KTHS ngày 20/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng: 2,2 gam. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, túy STT: 9, mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, sau khi giám định hoàn lại 1,83 gam Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 63/CT-VKSKV2 ngày 17/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên đã truy tố bị cáo Lưu T A về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm t, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân Tối cao (sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao): Xử phạt bị cáo từ 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 05 năm. Giao bị cáo Lưu T A cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Ph giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, tỉnh Phtrong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo.
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Hủy bỏ mọi biện pháp ngăn chặn đang áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS):
- Tịch thu tiêu huỷ 2,2 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ và hoàn lại mẫu sau giám định 1,83 gam; 04 mảnh nilon màu hồng;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1-775.97 kèm 01 chìa khoá và đăng ký xe mang tên Chu Văn Khánh là xe T A mua nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ; 01 hợp đồng mua bán xe; Nhãn hiệu HONDA, màu sơn trắng, đen, đỏ; Loại WaWe; Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong. Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo Lưu T A, bị cáo đã sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nhưng do chiếc xe đó là tài sản riêng của bị cáo. Tại phiên toà vợ bị cáo chị Nguyễn Thị Phượng có ý kiến, xe máy là tài sản riêng của bị cáo, do vậy đề nghị HĐXX tịch thu sung ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô nói trên.
- Trả cho bị cáo: 01 hộ chiếu mang tên Lưu T A
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo bị bắt ngày 16/8/2025 giam đến ngày 23/8/2025 bị cáo bị thủng dạ dầy tá tràng phải vào mổ và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên đến 03/9/2025 bị cáo mới được ra viện. Hiện nay sức khoẻ của bị cáo chưa ổn định. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án treo để bị cáo có cơ hội ở nhà điều trị bệnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người quả tang, biên bản niêm phong, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng chất ma tuý; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 14 giờ ngày 16/8/2025, tại Cửa khẩu Quốc tế Tây Trang, thuộc bản Ca Hâu, xã Sam Mứn, tỉnh Điện Biên, Lưu T A có hành vi cất giấu trái phép trên người 2,2 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân bị cáo. Hành vi của Lưu T A đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2025.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
... c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam’’.
Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng, bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.
. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự
- Về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tích cực hợp tác với Phòng CSĐT tội phạm về ma tuý tỉnh Điện Biên trong việc phát hiện tội phạm. Bị cáo có bố bị cáo đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng hai theo QĐ số 1127 ngày 06/01/1997, ngày 23/8/2025 bị cáo bị thủng dạ dầy tá tràng điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh đến ngày 03/9/2025 bị cáo mới được ra viện. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt (ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú); lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội. Việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết nhưng nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng có thể cải tạo, giáo dục bị cáo. Cho bị cáo có điều kiện để chăm sóc con nhỏ và thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật
. Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân Tối cao (sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân Tối cao xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo nên hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản gì có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi hành.
. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 2,2 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ và hoàn lại mẫu sau giám định 1,83 gam; 04 mảnh nilon màu hồng;
Đối với 01 hộ chiếu mang tên Lưu T A, HĐXX xét thấy không liện quan đến việc phạm tội của bị cáo, trả lại cho bị cáo hộ chiếu trên.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 27B1-775.97 kèm 01 chìa khoá và đăng ký xe mang tên Chu Văn Khánh là xe T A mua nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ; 01 hợp đồng mua bán xe; Nhãn hiệu HONDA, màu sơn trắng, đen, đỏ; Loại WaWe; Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong. Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo Lưu T A, bị cáo đã sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nhưng do chiếc xe đó là tài sản riêng của bị cáo và tại phiên toà vợ bị cáo có ý kiến, xe máy là tài sản riêng của bị cáo, do vậy đề nghị HĐXX tịch thu sung ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô nói trên.
. Các vấn đề khác:
Bị cáo khai nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ bị cáo mua của một người đàn ông quốc tịch Lào không biết tên, địa chỉ, ở huyện Mường Mày, tỉnh Phông-Sa-Lỳ, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Việc mua bán ma tuý chỉ mình bị cáo biết, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra. Do vậy HĐXX không xem xét xử lý.
. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về kháng cáo: Bị cáo và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2025; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Lưu T A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lưu T A 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/9/2025). Giao bị cáo Lưu T A cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phgiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo.
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ mọi biện pháp ngăn chặn đang áp dụng đối với bị cáo.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy gồm:
- Tịch thu tiêu huỷ 2,2 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ và hoàn lại mẫu sau giám định 1,83 gam; 04 mảnh nilon màu hồng;
- Trả cho bị cáo: 01 hộ chiếu mang tên Lưu T A;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-775.97 kèm 01 chìa khoá và đăng ký xe mang tên Chu Văn Khánh là xe Lưu T A mua nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ; 01 hợp đồng mua bán xe; Nhãn hiệu HONDA, màu sơn trắng, đen, đỏ; Loại WaWe; Xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Điện Biên).
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/9/2025).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/9/2025)./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- VKSND Khu vực 2 - Điện Biện;
- Công an tỉnh ĐB (PC04, PV06);
- Cơ quan THAHS tỉnh Điện Biên;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- Phân trại Trại tạm giam Na Son;
- Phòng THADS Khu vực 2-ĐB;
- HS THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Trần Thị Thương Huyền
- Lưu VP. THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Thị Thương Huyền Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- VKSND Khu vực 2 - Điện Biện;
- Công an tỉnh ĐB (PC04, PV06);
- Cơ quan THAHS tỉnh Điện Biên;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- Phân trại Trại tạm giam Na Son;
- Phòng THADS Khu vực 2-ĐB;
- HS THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
Trần Thị Thương Huyền
- Lưu VP. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND HĐB;
- VKSND tỉnh ĐB;
- Cơ quan điều tra Công an HĐB;
- Cơ quan THAHS HĐB;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- Trại tạm giam;
- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
- Chi cục THADS HĐB;
Trần Thị Thương Huyền
- HS THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP. THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Thị Thương Huyền Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSNDTPĐBP;
- VKSND tỉnh ĐB;
- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP
- Cơ quan THAHS TP ĐBP;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- Trại tạm giam;
- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
- Chi cục THADS TP ĐBP;
Trần Thị Thương Huyền
- HS THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSNDTPĐBP;
- VKSND tỉnh ĐB;
- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP
- Cơ quan THAHS TP ĐBP;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- Trại tạm giam;
- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
Trần Thị Thương Huyền
- Chi cục THADS TP ĐBP;
- HS THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP. THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Thị Thương Huyền
| Nơi nhận: -Bị cáo; - VKSNDTPĐBP; - VKSND tỉnh ĐB; - Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP - Cơ quan THAHS TP ĐBP; - TAND tỉnh Điện Biên; - Trại tạm giam; - Sở Tư pháp tỉnh ĐB; - Chi cục THADS TP ĐBP; - HS THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thương Huyền |