- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2025/HNGĐ-ST Ngày 04 tháng 9 năm 2025 V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thường và ông Nguyễn Thành Phước.
- Thư ký phiên tòa: ông Lâm Quang Trực – Là Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang: bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2432025/TLST-HNGĐ ngày 26/5/2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15/8/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1992
Địa chỉ: khối 2, xã Đ, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1986
Địa chỉ: ấp B, xã T, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn bà H có đơn xin vắng mặt. Bị đơn ông P vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà với ông Nguyễn Văn P quen biết, yêu thương rồi quyết định tiến tới hôn nhân vào năm 2012, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn theo uy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Vợ chồng sống hạnh phúc và có 01 con chung. Đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, cuộc sống không còn hạnh phúc ngoài ra anh Phương còn ham chơi, ăn nhậu, không chăm lo cho gia đình. Nhận thấy không thể tiếp tục sống chung được nữa nên bà đã quyết định sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Trong quá trình sống ly thân vợ chồng cũng đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay bà H yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị H xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn P.
+ Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Văn Tiến Đ sinh ngày 23/4/2015. Sau ly hôn bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
+ Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn P: Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông P nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay ông P vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của bà H.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn P.
Về con chung: giao con chung Nguyễn Văn Tiến Đ sinh ngày 23/4/2015 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét, giải quyết.
Về án phí: nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H xin được ly hôn ông Nguyễn Văn P; bị đơn ông Nguyễn Văn P có đăng ký nơi thường trú tại ấp B, xã T, tỉnh An Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh An Giang). Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về “Ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Văn P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông P.
Về nội dung tranh chấp:
Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn P chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang); được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 09/5/2012. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H, thấy: trong quá trình sống chung giữa bà H và ông P thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi nhau do bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống gia đình không còn hạnh phúc mặc dù cả hai đều đã cố gắng duy trì nhưng vẫn không có kết quả. Năm 2024 bà H và ông P chính thức sống ly thân. Do không còn tình cảm, không thể hàn gắn lại được bà H kiên quyết xin được ly hôn với ông P. Trong quá trình giải quyết Tòa án có tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng ông P vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với bà H để xây dựng hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà H và ông P không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.
Về quan hệ con chung, thấy: qua chứng cứ bà H cung cấp thì bà H và ông P có 01 con chung tên Nguyễn Văn Tiến Đ sinh ngày 23/4/2015. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay bà H là người trực tếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu Tiến Đ mong muốn được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Xét thấy, có đủ căn cứ giao con chung Tiến Đạt cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục theo quy định tại Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ông Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Nguyễn Thị H không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang là có căn cứ.
Về án phí: bà H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 khoản 2 Điều 227 và khoản 1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, điều 56, 81, 82, 83, và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn P.
- Về quan hệ con chung: giao con chung Nguyễn Văn Tiến Đ sinh ngày 23/4/2015 cho bà Nguyễn Thị H được trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Ông Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
2. Về án phí: bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021993 ngày 23/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 – An Giang) nên đã nộp xong.
3. Về quyền kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 10; - Phòng THADS khu vực 10; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Lâm |