- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Đ phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày 11-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huê
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Đặng Song Hoàn
2. Ông Hồ Sĩ Tiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Cao Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân L– Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 410/2023/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, Thông báo số 06/2024/TB-TA ngày 29 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:
1. Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1973 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: 51 P, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P; con bà Nguyễn Thị Đ1; vợ là Voòng Trôi M; có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 22-6-2009, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 143/2009/HSST.
- Ngày 11-8-2016, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng theo Quyết định số 355/2016/QĐ-TA.
- Ngày 21-8-2018, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 142/2018/HSST.
Bị bắt ngày 11-9-2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (có mặt).
2. Nguyễn Duy L1, sinh năm 1990 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: 8 H, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy T; con bà Hoàng Thị N; vợ là Cao Thị L2; có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 11-9-2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Duy L1 là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 11 tháng 9 năm 2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L1 gọi điện thoại cho Nguyễn Ngọc Đ để hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy dạng đá, Đ đồng ý bán và hẹn L1 đến nhà Đ ở địa chỉ E P, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để nhận ma túy. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, L1 đi bộ đến nhà của Đ. Tại đây, Đ đưa cho L1 02 gói nylon bên trong chứa chất ma túy, L1 trả cho Đ 1.000.000 đồng. Sau khi nhận ma túy từ Đ, L1 cất giấu số ma túy này vào người rồi đi bộ về. Khi đi đến khu vực D đường C, phường R, thành phố V thì bị Đội CSĐT tội phạm ma túy Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phối hợp với Công an phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 02 (hai) gói ma túy nói trên.
Nguyễn Ngọc Đ khai nhận đây là lần đầu tiên bán ma túy cho L1, ngoài ra Đ không bán ma túy cho ai khác. Nguồn gốc số ma túy dùng để bán cho L1 là do Đ mua lại từ thanh niên tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 2.000.000 đồng nhằm mục đích sử dụng; bản thân Đ đã sử dụng hết một ít, còn lại hai gói trên đã bán cho L1 để kiếm lời.
Tại Bản kết luận giám định số: 401/KL-KTHS-MT ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 02 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh màu trắng có khối lượng 0,4869 gam ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, Nguyễn Ngọc Đ và Nguyễn Duy L1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Công an thu giữ vật chứng và các tài sản gồm:
+ Thu giữ từ Nguyễn Duy L1 02 (hai) gói nylon hàn kín bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt, sau giám định được niêm phong vụ số 401 ngày 20-9-2023 của Phòng K Công an tỉnh B;
+ T1 tại nhà của Nguyễn Ngọc Đ: 01 (một) điện thoại di động hiệu S cảm ứng màu xanh có số Imei 351574186001797- đây là điện thoại của Nguyễn Ngọc Đ. Đ khai nhận sử dụng điện thoại này để liên hệ với Nguyễn duy L3 để bán ma túy; 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Đây là tiền bán ma túy cho L3; 01 (một) cân điện tử- Đ khai nhận do một người em ngoài xã hội nhờ Đ giữ giùm, không sử dụng vào mục đích gì khác.
Số vật chứng và các tài sản trên được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 388/CT-VKSVT ngày 21 tháng 12 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố:
- Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- Bị cáo Nguyễn Duy L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với:
- Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Bị cáo Nguyễn Duy L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
Đối với đối tượng tên L đã bán ma túy cho bị cáo do không rõ lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy các gói ma túy đã qua giám định, là tang vật của vụ án.
- Đề nghị tịch thu 01 (một) điện thoại di động hiệu S cảm ứng màu xanh có số Imei 351574186001797 của Nguyễn Ngọc Đ do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
- Đề nghị tịch thu 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Đây là tiền bị cáo có được do phạm tội mà có.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) cân điện tử do không còn giá trị sử dụng, không xác định chủ sở hữu.
* Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ, Nguyễn Duy L1 đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Lời nói sau cùng, các bị cáo thể hiện ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc Đ, Nguyễn Duy L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại địa chỉ E P, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Ngọc Đ có hành vi bán trái phép 0,4869 gam ma túy, loại Methamphetamine cho Nguyễn Duy L1 với giá 01 (một) triệu đồng. Khi L1 cất giấu số ma túy trên vào người và đi về đến khu vực D đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an thành phố V phối hợp với Công an phường R, thành phố V bắt quả tang. Lương tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi bị cáo Nguyễn Ngọc Đ thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy L1 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của các bị cáo:
Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Đ: Xét tính chất mức độ do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi nhuận, muốn có tiền tiêu xài, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải xử lý và tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Duy L1: Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm; bị cáo là một người có nhận thức, sức khỏe, nhưng lại thiếu bản lĩnh, ham chơi đua đòi theo những đối tượng sử dụng ma túy làm bản thân lệ thuộc vào chất gây nghiện, từ đó tàng trữ ma túy để sử dụng. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội, gây bất an cho cộng đồng. Vì vậy, cần phải xử lý và tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung về tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo nhận thức được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo tốt.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Ngọc Đ không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã qua giám định là tang vật vụ án.
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu S cảm ứng màu xanh có số Imei 351574186001797 do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
- Tich thu sung vào Ngân sách nhà nước (hai) tờ tiền mệnh giá 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) là tiền do phạm tội mà có.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cân điện tử do không còn giá trị sử dụng, không xác định được chủ sở hữu.
Đối với người đàn ông tên L bán ma túy cho Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra đã cho Đ nhận dạng tuy nhiên Đ không nhận dạng được người đàn ông tên L, do L không rõ nhân thân, lai lịch, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, đủ căn cứ xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 9 năm 2023.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L1 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 9 năm 2023.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong màu trắng vụ số 401 ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh B.
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung cảm ứng màu xanh.
- Tich thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 10-01-2024 tại Kho bạc Nhà nước V.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cân điện tử.
Thực hiện thi hành án theo biên bản giao nhận vật chứng số 85/BB-CCTHADS ngày 10-01-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc Đ, Nguyễn Duy L1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06,PC10); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND Tp.Vũng Tàu; - Công an Tp.Vũng Tàu; - Chi cục THADS Tp.Vũng Tàu; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Huê |