- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyến Tuấn Toàn - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày: 17 – 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thúy Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Huỳnh Văn Nhân
Bà: Trần Vĩnh Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy D – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/HSST ngày 29/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 622/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn T, sinh năm 2002, tại Cần Thơ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1970 và bà Lê Thị Phượng L, sinh năm 1968; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự, ngày 10/4/2023 bị Công an huyện P, thành phố Cần Thơ xử 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 11 tháng 6 năm 2024. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 11/6/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận B kết hợp Công an phường T tuần tra trên địa bàn. Khi đến Tổ A, khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ phát hiện Nguyễn Tuấn T điều khiển xe mô tô biển số 65B2-469.30 chở Lê Ngọc H, có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe lại để làm việc thì T ném từ tay trái xuống đường một vỏ thuốc lá nhãn hiệu HEIROSE bên trong có một gói nilon không màu hàn kín chứa tinh thể không màu nên lập biên bản thu giữ. Ngoài ra, lực lượng chức năng còn thu giữ của T một điện thoại di động hiệu SamSung màu xanh, bên trong có sim điện thoại số 0562.047.265; một xe mô tô gắn biển kiểm soát 65B2-469.30.
Quá trình điều tra và tại phiên toà Nguyễn Tuấn T khai nhận: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 11/6/2024, T có sử dụng ma túy, gói ma túy ném xuống đường là của T. T có quen biết với người thanh niên tên “N”, “Nam” nhờ T mua hộ 500.000 đồng ma túy đá, T đồng ý. T liên hệ với người phụ nữ tên “L1” thông qua ứng dụng mạng xã hội M và mua ma túy với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T cầm gói ma túy trên tay chạy xe về nhà. Khi về đến nhà T lấy gói ma túy đá để vào mặt sau vỏ gói thuốc lá hiệu HEIROSE, bên ngoài vỏ gói thuốc lá có bao bì nilon và bỏ vào túi quần đang mặc. Sau đó, T rủ bạn gái Lê Ngọc H chở đi mua đồ ăn. Trên đường đi T lấy vỏ gói thuốc lá có chứa gói ma túy đá cầm trên tay trái, để chạy xe đến cầu T, thuộc phường T, quận B giao ma túy cho N (vì trước đó T hẹn với N tại đây). Khi T chở H đến đoạn đường thuộc tổ A, khu vực T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ thì có lực lượng Công an tuần tra đi đến yêu cầu dừng xe làm việc. Lúc này sợ bị phát hiện, T ném vỏ gói thuốc lá chứa gói ma túy đá từ tay trái xuống đường thì bị lực lượng Công an phát hiện. T khai nhận gói ma túy Công an thu giữ là của T nhằm mục đích mua và bán lại cho một người tên N để hưởng huê lợi cho bản thân chứ không nhằm mục đích gì khác.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận sự việc phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Về các vấn đề khác của vụ án:
Theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11/6/2024, Công an quận B đã thu giữ của bị cáo gồm: 01 vỏ thuốc lá nhãn hiệu HEIROSE bên trong có một gói nilon không màu hàn kín; 01 điện thoại di động hiệu SamSung bên trong có sim điện thoại số 0562.047.265 và 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 65B2-469.30 (xe đã qua sử dụng).
Theo Kết luận giám định số 153/KL-KTHS ngày 18/06/2024 của Phòng K Công an thành phố C, kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,2344 gam.
Đối với người tên N nhờ bị cáo mua ma túy và người tên L1 bán ma tuý cho bị cáo, do không đủ thông tin để xác định được đầy đủ họ tên và địa chỉ cư trú cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Cần Thơ tiếp tục điều tra.
Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:
Bản Cáo trạng số 81/CT-VKSBT ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Về mức hình phạt:
Áp dụng Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau khi giám định và 01 sim số điện thoại của bị cáo; Tịch thu và sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu SamSung của bị cáo và trả lại ông Đặng Văn T1 01 xe mô tô biển kiểm soát 65B2-469.30.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về các vấn đề trên, đồng thời không tranh luận đối với truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo biết ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đối với các hành vi, quyết định tố tụng khác trong vụ án đã được Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình tố tụng, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng này là hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Bản thân bị cáo đã sử dụng và nghiện ma tuý từ năm 2019 đến nay, tuy nhiên không sử dụng liên tục, thường xuyên. Vào lúc khoảng 15 giờ 50 phút, ngày 11/6/2024 bị cáo có đi mua ma tuý dùm cho một người tên N để hưởng huê lợi, cụ thể bị cáo mua ma tuý của một người tên L1 với số tiền 200.000 đồng và bán lại cho N số tiền 500.000 đồng, nhưng chưa kịp giao ma tuý cho N và chưa nhận tiền từ N, do đang trên đường đi giao ma tuý cho N thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ tang vật. Bị cáo khai nhận gói ma túy Công an thu giữ là của bị cáo nhằm mục đích bán lại cho N với giá 500.000 đồng chứ không nhằm mục đích gì khác.
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11/6/2024 Công an đã thu giữ các tang vật như đã nêu trên.
Qua trưng cầu giám định chất ma túy xác định tinh thể không màu trong gói nilon là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,2344 gam, là chất ma túy quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy và các tệ nạn xã hội khác, gây nhức nhối cho mỗi gia đình và toàn xã hội. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn cần thiết.
Để nhằm mục đích hưởng lợi từ việc mua ma tuý dùm cho người tên N để hưởng lợi mà bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, ngang nhiên đưa ma túy vào đời sống xã hội, nên cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt tù đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau khi giám định và 01 sim điện thoại số 0562047265. Tịch thu và sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động của bị cáo. Trả lại xe moto biển kiểm soát số 65B2-46930 cho ông Đặng Văn T1.
Đối tượng tên N và tên L1 là người mua, bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B tiếp tục điều tra, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, Điều 38, Điều 46, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[2] Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 6 năm 2024.
[3] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì thư được niêm phong ghi số 153/KL-KTHS, ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Phòng K - Công an thành phố C, bên trong chứa 0,2120 gam ma túy và một sim điện thoại số 0562047265.
- Tịch thu và sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu SamSung của bị cáo.
- Trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát số 65B2-46930 cho ông Đặng Văn T1.
[4] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tp Cần Thơ; - Sở Tư pháp Tp Cần Thơ; - VKSND Q. Bình Thủy; - Công an Q. Bình Thủy; - Chi cục Thi hành án dân sự Q. Bình Thủy; - Bị cáo; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có); - Lưu: hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thúy Nguyên |