vanban.org

Bản án 77/2024/DS-PT — Tranh chấp đất đai

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 25/09/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/09/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Bácyêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T5.

Về án phí và về chi phí tố tụng: Về chi phí tố tụng: Buộc bà Trần Thị T5phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng. Xác nhận bà Trần Thị T5đã nộp đủ chi phí này. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Bácyêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T5.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 115 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌĐộc lập-Tự do-Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:77/2024/DS-PT
Ngày: 25-9-2024
“V/v: Tranh chấphợp đồng
quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Toàn

Các thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trường Bà Điêu Thị Bích Lượt

- Thư ký phiên toà:Bà Ngô Thị Hà Thu-Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọtham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 62/2024/TLPT - DS ngày 08tháng 7 năm 2024 về “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:85/2024/QĐXXPT-DSngày 27 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa 682/2024/QĐ-PT ngày 13/9/2024 và ấn định mở lại phiên tòagiữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình L, sinh năm 1979 và chị Đặng Thị T, sinh năm 1990.Đại diện theo ủy quyền của anh L: Chị Đặng Thị T, sinh năm 1990.Đều có địa chỉ: Khu Đ, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ.Có mặt

Bị đơn: Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1957.

Địa chỉ: Khu A, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T1: Ông Nguyễn Đức H - Luật sư thuộc Văn phòng L6 - Đoàn luật sư tỉnh P.Địa chỉ:SN A, tổ B, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có mặt

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị T2, sinh năm 1964.Địa chỉ: Khu A, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.Vắng mặt

Ngƣời tham gia tố tụng khác:

1.Ông Đỗ Văn T3, sinh năm 1958;

2.Ông Cù Văn P, sinh năm 1956;

Đều có địa chỉ: Khu A, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

3.Ông Nguyễn Đăng L1, sinh năm 1970;

Địa chỉ: Khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn là anh Nguyễn Đình Lvà chị Đặng Thị Ttrình bày: Nguồn gốc quyền sử dụng đất vợ chồng tôi đang tranh chấp với ông T1là vợ chồng tôi mua của ông L1và bà H1. Vợ chồng ông L1và bà H1đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 cấp ngày 24/8/2018, hai bên đã làm hợp đồng chuyển nhượng và các thủ tục pháp lý sang tên vợ chồng tôi và nhậpchung vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung mang tên vợ chồng tôi (vì vợ chồng tôi mua cùng lúc 03 thửa) về diện tích đất nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông L1đúng bằng diện tích đất theo bìa đỏ đã cấp cho vợ chồng ông L1về thửa đất này.

Ngoài ra vợ chồng tôi còn mua của vợ chồng ông L1và bà H102 thửa đất nữa: 01 thửa giáp với đất nhà ông T4theo giấy chứng nhận quyền sử đất số CM 061140 cấp ngày 24/5/2018, vợ chồng tôi đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các thủ tục pháp lý và đã sang tên vợ chồng tôi nhập chungvào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng tôi; 01 thửa đất cũng của vợ chồng ông L1và bà H1nhưng khi vợ chồng ông L1chuyển nhượng sang cho vợ chồng tôi thì vẫn đứng tên vợ chồng ông Đỗ Văn T1và bà Đặng Thị Tuyết .Do vẫn đứng tên vợ chồng ông T1và bà T2nên khi làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì thống nhất giữa vợ chồng ông L1, vợ chồng ông T1và vợ chồng tôi để vợ chồng ông T1với vợ chồng tôi ký hợp đồng và các thủ tục pháp lý để sang tên vợ chồng tôi và thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chúng tôi đã nhập chung cả vào GCNQSDĐ mang tên vợ chồng tôi.

Khi các giấy tờ và thủ tục pháp lý đầy đủ vợ chồng tôi đã được UBND huyện Tcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 329924 ngày 03/10/2019 thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 5, diện tích 527m2 ở khu B, xã C (nay là khu A, xã V), huyện T, tỉnh Phú Thọ(diện tích đất này là chung của 03 thửa đất mà vợ chồng tôi đã mua nhập chung như nêu ở trên).

Sau khi mua đất vợ chồng tôi chưa sử dụngnhưng ổn định, không có tranh chấp từ năm 2019 đến tháng 3/2023vợ chồng tôi thấy ông T1đem máy múc đến múc đất của vợ chồng tôi thành mươngsâu theo chiều mặt đường là 02m và chạy suốt theo chiều sâu của đất. Vợ chồng tôi có trao đổi với ông T1nhưng ông T1không nghe nên vợ chồng tôi đã làm đơn đến UBND xã Vnhưng hoà giải không thành. Vợ chồng đã làm đơn đến Toà án và yêu cầu ông T1lấp lại mặt bằng trả lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi vì phần diện tích đất này là vợ chồng tôi mua của ông L1và bà H1thuộc thửa 198, tờ bản đồ số 05, đất giáp nhà ông T3là em ông T1; Thửa đất mà ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do thống nhất giữa vợ chồng ông L1, vợ chồng ông T1và vợ chồng tôi có chiều theo mặt đường Quốc lộ 32C là 03m và chiều dài tính từ mặt đường Quốc lộ 32 C vào trong là 38m. Xác nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019 có diện tích là 527m2 (trong đó có 100m2 đất ở, 427m2 đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 05.Cấm ông T1không được thực hiện hành vi xâm phạm quyền sử dụng đất của vợ chồng tôi ở trên.

Ý kiến trình bày của bị đơn: Tôi không nhất trí với ý kiến của nguyên đơn vì đất tôi đang múc là đất của tôi 100% nên tôi có quyền làm. Tại thời điểm này tôi chưa có giấy tờ gì chứng minh tôi sẽ chứng minh sau.

Về chữ ký và chữ viết của vợ chồng tôi: Vợ chồng tôi có ký và ghi rõ họ tên đầy đủ là Đỗ Văn T1và Đặng Thị T2trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 04/9/2019 giữa vợ chồng tôi và vợ chồng anh L, chị Tlà đúng chữ viết và chữ ký của vợ chồng tôi.

Vợ chồng tôi có ký và ghi rõ họ tên trong các giấy tờ gồm:

-Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thức đất ngày 04/9/2019.

-Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtngày 04/9/2019.

-Đơn đăng ký biến động vềđất đai, tài sản gắn liền với đất ngày 04/9/2019.

Đối với tờ khai thuế TNCN chỉ một mình tôi ký, vợ tôi không ký ở đây.

Vợ chồng tôi và vợ chồng anh Lkhông có trao đổi, mua bán đất gì cũng không nói chuyện với nhau vềviệc mua bán bao giờ.

Theo sơ đồ ngày 18/01/2024, do cơ quan Văn phòng đăng ký đất đai và phát triển quỹ đất huyện Ttrích đo cụ thể tôi xác định như sau:

Thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061140 cấp ngày 24/5/2018 của vợ chồng ông L1và bàH1phía giáp nhàông T4, việc vợchồng ông L1chuyển nhượng cho vợ chồng anh Ltôi không thắc mắc,tranh chấp gì đây là quyền của vợ chồng ông L1không liên quan đến vợ chồng tôi.

Tiếp giáp thửa đất của vợ chồng ông L1ghi ở trên là 3m mặt đường (theo Biên bản thoả thuận ngày 10/5/2018) là của vợ chồng tôi bán cho ông P, sau đó ông Pbán cho ông L1và được ghi nhận tại Biên bản thoả thuận ngày 10/5/2018 nhưng các bên chỉ viết bằng ghi nhận không qua chính quyền địa phương. Thửa đất này giữa tôi, ông L1và ông Pkhông có tranh chấp gì. Do không có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua chính quyền địa phương nên khi vợ chồng ông L1chuyển nhượng cho vợ chồng anh Lthì có yêu cầu tôi làm luônhợp đồng chuyển diện tích đất này sang tên vợ chồng anh L(thể hiện tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đấtngày 04/9/2019).

Trong hợp đồng này về chiều mặt đường 3m tính từ tiếp giáp thửa đất của vợ chồng ôngL1ghi ở trên kéo vào trongđất tôi hoàn toàn nhất trí số diện tích đất ghi cũng hoàn toàn nhất trí, xong chỉ xác định 35m kéo từ đường dân sinh về phía sau chứ không phải 38m. Quyền sử dụng đất này không liên quan gì đến ông L1và ông P.

Thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 cấp ngày 24/8/2018 phía giáp nhàông T3: Về hồ sơđể vợ chồng ông L1cógiấy chứng nhận quyền sử dụng đất tôi không thắc mắc gì nên theo tài liệu chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông L1với vợ chồng ông T3tôi không có ý kiến gì nên tôi không thắc mắc, tuy nhiên giữa vợchồng ông T3bán cho vợ chồng ông L1thì có bán cả 2m mặt đường của tôi (theo sơ đồ thể hiện là 5m dài 44,5m về phía giáp ông T3, 41,8m phía giáp đất thửa có 03m mặt đường ghi trên, trong 05m mặt đường có 02m của tôi). Chính vì vậy tôi với vợ chồng anh Lcó tranh chấp theo mặt đường là 02m, chiều dài như Biên bản xác định hiện trạng đo đạc ngày 18/01/2024. Hiện nay tôi sẽ trao đổi lại với ông T3(emtôi) chứ vợ chồng ông L1không liên quan gì vì vợ chồng ông L1đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tôi sẽ cung cấp cho Toà án căn cứ để chứng minh ông T3bán 02m của tôi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bàĐặng Thị T2trình bày: Tôi là vợ ông T1, toàn bộ chữ ký và ghi họ tên Đặng Thị T2trong Hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 04/9/2019 cùng toàn bộ hồ sơchuyển nhượng này là đúng của tôi. Việc tranh chấp đất giữa vợ chồng anh Lvới ông T1: Từ trước đến nay tôi không tranh chấp gì với vợ chồng anh L, đất có bìa đỏ của ai thì là của người đó, tôi không tranh chấp gì, không liên quan gì. Tôi đề nghị Tòa án không báo gọi tôi nữa tôi không tham gia bất cứ việc gì tại Toà, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt tôi. Ngƣời tham gia tố tụng khác trình bày:

1.Ông Đỗ Văn T3: Việctôi và vợ chồng ông L1, bà H1làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 ngày 24/8/2018 và sơ đồ đất không liên quan gì đến ông T1vì giữa các hộ giáp ranh trong đó có ông T1đã ký. Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đấtchúngtôi đã làm đầy đủ theo pháp luật không có ai khiếu kiện thắc mắc gì nên vợ chồng ông L1đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 đứng tên vợ chồng ông L1. Do đó việc chuyển nhượng này không liên quan đến đất của ông T1, không xâm phạm gì đến phần đất của ông T1nên đề nghị Toà án xem xét.

2. Ông Cù Văn P: Theo Biên bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất ngày 10/8/2018 gồm các bên đã ký, trong đó có tôi là đúng chữ ký của tôi và nội dung hoàn toàn đúng. Sau khi các bên thống nhất thì thuộc quyền sử dụng của ông L1. Sau ngày 10/8/2018 thì giữa tôi, ông T1và ông L1không liên quan gì tới nhau về tranh chấp trong nội dung ghi nhận. Vì ông L1với tôi chỉ ghi nhận bằng giấy tờ này nên sau này ông L1chuyển nhượng cho ai nữa thì tôi không biết việc vợ chồng anh Lvà chị Tkhởi kiện đối với ông T1không liên quan gì tới tôi, tôi đề nghị Toà án không triệu tập tôi và đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và khi xét xử.

3. Ông Trần Đăng L2:Về lời khai của ông Pghi ngày 05/3/2024 tôi nhất trí không thắc mắc gì.

Về lời khai của ông T1tôi chỉ đồng ý về lời khai 02 thửa đất:

Thửa đất mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM061140 cấp ngày 24/5/2018 có sơ đồ là đúng hai bên không tranh chấp, không thắc mắc gì; Thửa đất tiếp theo 03m (tiếp giáp thửa đất đất số bìa CM 061140 thì khi vợ chồng tôi chuyển nhượng cho vợ chồng anh L, do ba bên giữa vợ chồng ông T1, vợ chồng tôi và vợ chồng anh Lcó thống nhất luôn chiều dài từ 35m kéo cho đủ 38m để cho chiều dài bằng thửa đất ghi số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CM 061140 và vợ chồng ông T1đã đồng ý nên đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T1với vợ chồng anh Llà 38m; Thửa đất theo theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 cấp ngày 24/8/2018 diện tích đất này vợ chồng tôi mua của vợ chồng ông T3, về mốc giới tôi và vợ chồng ông T3đã xác định rõ và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi. Nay ông T1cho rằng ông T3bán cả 02m mặt đường của ông T1cho tôi là không đúng.

Việc vợ tôi là bà H1đã nhận được giấy báo của Toà án nhưng do bận và xác định không liên quan đến việc kiện giữa vợ chồng anh Lvới ông T1nên không đến Toà án. Tôi và bà H1đề nghị Toà ánkhông triệu tập và đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và khi xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số04/2024/DS-ST ngày 23/4-2024và Thông báo sửa chữa, bổ sung Bản án củaTòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ đã:

Căn cứ vào:Khoản 1 - Điều 8, Khoản 1,2 - Điều 11, Điều 115, 164, 169, 500,501, 502,503 Bộ luật dân sự; Khoản 1- Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 và Điều 170 Luật đất đai; Điểm đ - Điều 12,Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình Lvà chị Đặng Thị Tđối với ông Đỗ Văn T1.

Công nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Đình Lvà chị Đặng Thị Ttheo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 329924 do UBND huyện Tcấp ngày 03/10/2019 có diện tích là 527m2 (trong đó có 100m2 đất ở, 427m2 đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 05 (Theo sơ đồ tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên) và trích đo địa chính hiện trạng thửa đất ngày 18/01/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai và Phát triển quỹ đất huyện Ttheo chỉ giới 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,1 (có sơ đồ kèm theo).

Buộc ông Đỗ Văn T1phải trả lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Nguyễn Đình Lvà chị Đặng Thị Ttheo chỉ giới: 3,4,5,6,11,12,9,10,3 (có sơ đồ trích đo địa chính hiện trạng thửa đất do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và phát triển quỹ đất huyện Tđo đạc ngày 18/01/2024)

Buộc ông Đỗ Văn T1chấm dứt mọi hành vi xâm phạm quyền sử dụng đất ghi trên của vợ chồng anh Nguyễn Đình Lvà chị Đặng Thị T.

Bản án còn tuyên về thi hành án và quyền kháng cáo.

Ngày 08/5/2024ông Đỗ Văn T1 có đơn kháng cáo với nội dung:Quá trình thu thập tài liệu và đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm không khách quandẫn đến việc tuyên bản án không đúng với thực tế quá trình sử dụng đất, sâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông (những nội dung cụ thể ông báo cáo ở cấp phúc thẩm).

Đề ghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm theo hướng hủy Bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình ông.

Tại phiên tòaphúc thẩm, người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đỗ Văn T1trình bày: Đề nghị hoãnphiên tòa để xem xét thẩm định, xác minh lại.

Ông Lđề nghị giữ nguyên Bản án của cấp sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị ánđều thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phát biểu về quan điểm nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Văn T1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số04/2024/DS-ST ngày 23-4-2024củaTòa án nhân dân huyện Tam Nông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xéttại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về hình thức đơn kháng cáo của ông Đỗ Văn T1làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ.

Về sự có mặt của các bên đương sự: Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về nội dung kháng cáo của ông Đỗ Văn T1.

Nguồn gốcgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019 có diện tích là 527m2 (trong đó có 100m2 đất ở, 427m2 đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 05 của vợ chồng anh Lvà chị Tnhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Đăng L1và bà Đỗ Thị Lan H2, địa chỉ khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ03 thửa đấtgồm:

+ Thửa thứ nhất:Nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông L1và bà H201 thửa đất (giáp với đất nhà ông T4) theo giấy chứng nhận quyền sử đất của ông L1và bà H2số CM 061140 cấp ngày 24/5/2018. Vợ chồng anh Lvà chị Tđã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các thủ tục pháp lý và đã sang tên vợ chồng anh L, chị Tvà nhập chung vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của vợ chồng anh Lvà chị Tsố CT 329924 cấp ngày 03/10/2019. Thửa đất này không có tranhchấp. + Thửa thứ hai: Nhận chuyển nhượng thửa đất tiếp của vợ chồng ông L1và bà H2: Thửa đất giáp thửa đất nêu trênnhưng khi vợ chồng ông L1chuyển nhượng cho vợ chồng anh Lvà chị Tthì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên ông Đỗ Văn T1và bà Đặng Thị Tuyết .Do vẫn đứng tên ông T1và bà T2nên các bên thoả thuận và đi đến thống nhất khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các thủ tục pháp lý để sang tên vợ chồng anh Lvà chị Tthì vợ chồng ông T1và bà T2có ký các giấy tờ đầy đủ để sang tên cho vợ chồng anh Lvà chị T. Vợ chồng anh Lvà chị Tđãnhập chung vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng anh chị số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 5, diện tích 527m2 ở khu 2 xã C (nay là khu A xã V), huyện T, tỉnh Phú Thọ.Thửa đất nàykhông tranh chấp về chiều mặt đường Quốc lộ 32C, hai bên đều xác định 03m (điều này vợ chồng anh L, ông T1và ông L1đều thừa nhận) nhưng có tranh chấp về chiều dài của thửa đất giữa ông T1và vợ chồng anh L.

Theo vợ chồng anh L: Khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông L1do quyền sử dụng đất vẫn đứng tên vợ chồng ông T1nên ba bên là vợ chồng ông L1, vợ chồng ông T1và vợ chồng anh Lđều thống nhất: Vợ chồng ông T1và vợ chồng anh Llàm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ vợ chồng ông T1trực tiếp sang vợ chồng anh Llà 38mchiều dài tính từ mặt đường quốc lộ kéo vào. Do sự thỏa thuận giữa các bên nên vợ chồng ông T1đã cùng với vợ chồng anh Lký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 04/9/2019.

Ông T1thừa nhận có sự chuyển nhượng như vợ chồng anh chị Luật Ttrình bày nhưng ông chỉ chuyển nhượng 35m chiều dài tính từ mặt đường quốc lộ kéo vào sâu phía trong.Hợp đồng này ông T1xác nhận chữ ký ghi họ tên Đỗ Văn T1và Đặng Thị T2là đúng của vợ chồng ông T1và bà T2; bên nhận chuyển nhượng đúng là của anh Nguyễn Đình Lvà Đặng Thị T. Căn cứ vào trình bày của các đương sự và các tài liệu chứng cứ do Toà án cấp sơ thẩm thu thập có đủ cơ sở xác định:

Bản thân bà T2(vợ của ông T1) thừa nhận tham gia ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đấtngày 04/9/2019. Bà T2cũng xác nhận không có tranh chấp gì với vợ chồng anh Lvà xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ai thì thuộc người đó; quyền sử dụng đất ghi diện tích trong hợp đồng phù hợp với chiều dài 38m của thửa đất và các tài liệu, sơ đồ hiện trạng có trong hợp đồng này. Điều này còn phù hợp với lời khai của ông L1là: Khi vợ chồng ông L1chuyển nhượng cho vợ chồng anh L, do ba bên giữa vợ chồng ông T1, vợ chồng ông L1và vợ chồng anh Lcó thống nhất luôn để chiều dài từ 35m kéo cho đủ 38m để cho chiều dài bằng thửa đất ghi số bìa CM 061140 và vợ chồng ông T1đã đồng ý nên đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T1với vợ chồng anh Llà 38m.Như vậy, có đủ cơ sở xác định vợ chồng anh Lnhận chuyển nhượng thửa đất này với chiều mặt đường Quốc lộ 32C là 03m và chiều dài tính từ mặt đường Quốc lộ 32C kéo sâu vào trong là 38m như vợ chồng anh Lđã trình bày. Vì vậy, phần đất đang tranh chấp giữa vợ chồng anh Lvà ông T1là của vợ chồng anh Lđược nhận chuyển nhượng hợp pháp. Giấy CNQSD đất của vợ chồng ông L1thửa đất đã có GCNQSD đất số CM 061843 cấp ngày 24/8/2018 mang tên Nguyễn Đăng L1và Đỗ Thị Lan H2chuyển nhượng cho vợ chồng anh L, chị T(nay vợ chồng anh Lđã nhập chung vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng anh Ltheo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019). Quyền sử dụng đất này có tranh chấp giữa ông T1và vợ chồng anh L, cụ thể tranh chấp về chiều ngang mặt đường Quốc lộ 32C là hơn 2m và chiều dài từ mặt đường quốc lộ về hết phía sau của thửa đất. Theo ý kiến của vợ chồng anh L:Việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên của vợ chồng ông L1theo GCNQSD đất trên có chiều mặt đường Quốc lộ 32C và phía sau đều là 05m, chiều dài giáp phía đất của nhà ông T3là 44,5m, chiều dài phía giáp đất mà vợ chồng anh Lmua của vợ chồng ông L1(nhưng hợp đồng do vợ chồng ông T1ký với vợ chồng anh Lngày 04/9/2019 như phân tích ở trên) là 41,8m. Ông T1cho rằng: Trong chiều rộng thửa đất này có hơn 2m mặt đường Quốc lộ Ckéo về hết đất phía sau là của ông T1do ông T3đã chuyển nhượng cả diện tích đất này cho vợ chồng ông L1nên vợ chồng ông L1mới chuyển nhượng cho vợ chồng anh L.Căn cứ vào trình bày của các đương sự và tài liệu doToà án cấp sơ thẩm đã thu thập có đủ cơ sở xác định: Bản thân bà T2là người đồng sở hữu quyền sử dụng đất này nhưng bà T2vẫn xác định không có tranh chấp với ai và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ai thì của người đó, nghĩa là quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng anh Llà của vợ chồng anh L;ông T3 xác định việc vợ chồng ông và vợ chồng ông L1làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy và sơ đồ đất không liên quan gì đến ông T1vì giữa các hộ giáp ranh trong đó có ông T1đã ký. Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đấtcác bên đã làm đầy đủ theo pháp luật không có ai khiếu kiện thắc mắc gì nên vợ chồng ông L1đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 đứng tên vợ chồng ông L1. Do đó việc chuyển nhượng này không liên quan đến đất của ông T1, không xâm phạm gì đến phần đất của ông T1.Mặt khác,ông L1xác định thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 cấp ngày 24/8/2018 diện tích đất này vợ chồng ôngnhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T3, về mốc giới vợ chồng ông L1và vợ chồng ông T3đã xác định rõ và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông L1, ông T1cho rằng ông T3bán hơn 2m mặt đường của ông T1cho vợ chồng ông là không có căn cứ. Do vậy, quyền sử dụng đất này vợ chồng ông L1nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T3là đúng pháp luật không liên quan đến ông T1. Vì vậy vợ chồng ông L1đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 ngày 06/8/2018, chính từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T3với vợ chồng ông L1đúng pháp luật nên vợ chồng ông L1có quyền chuyển nhượngcho vợ chồng anh Llà đúng pháp luật. Diện tích đất mà vợ chồng anh Lnhận chuyển nhượng của vợ chồng ông L1đúng bằng diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng ông L1ghi ở trên.

Lờitrình bày của bà T2, ông T3và ông L1 phù hợp với Hợp đồng chuyển nhựng quyền sử dụng đấtvà tài sản gắn liền với đất đã được lập ngày 06/8/2018 giữa vợ chồng ông T3với vợ chồng ông L1. Theo hợp đồng này thì ông T1xác định đã ký giáp ranh thửa đất (xác nhận chữ ký ghi họ tên Đỗ Văn T1là đúng của ông T1), phù hợp với các tài liệu, sơ đồ hiện trạng theo hồ sơ này. Đồng thời, phíaông T1cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh hơn 2m mặt đường Quốc lộ Clà thuộc quyền sử dụng của ông T1.

Từ những phân tích nêu trên có đủ cơ sở để xác định: Việc vợ chồng anh Lvà chị Tnhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông L1và bà H2theo 02 GCNQSĐ (01 thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061140 cấp ngày 24/5/2018 và 01 thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 cấp ngày 24/8/2018) và của vợ chồng ông T1và bà T2(theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 04/9/2019) là đúng pháp luật. Vợ chồng anh Lvà chị Tđã nhập chung vào theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019 có diện tích là 527m2(trong đó có 100m2 đất ở, 427m2 đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 05 (có sơ đồ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Sơ đồ này phù hợp với sơ đồ khi xem xét thẩm định và định giá tài sản lập ngày 18/01/2024. Toà án cấp sơ thẩm xác nhận anh chị Luật Tcó quyền sở hữu hợp pháp về quyền sử dụng đất nêu trên theo sơ đồ tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019(có trích đo địa chính hiện trạng thửa đất số 178, tờ bản đồ số 5 có chỉ giới 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,1được xem xét, thẩm định ngày 18/01/2024) là có căn cứ và phù hợp. Việc ông T1múc đất (theo chỉ giới 3,4,5,6,11,12,9,10,1được xem xét, thẩm định ngày 18/01/2024) đã lấn chiếm quyền sử dụng đất của vợ chồng anh Lchị Tnên Toà án cấp sơ thẩm buộc ông T1phải trả lại quyền sử dụng đất này cho vợ chồng anh Lvà chị Tlà phù hợp và có căn cứ.

Do anh Lchị Tkhông yêu cầu ông T1phải khôi phục lại tình trạng đất ban đầu trước khi múc đất nên Toà án cấp sơ thẩm không đề cập xử lý là phù hợp.

Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T1đề nghị xem xét thẩm định và xác minh lại là không có căn cứ chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Văn T1, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đỗ Văn T1không được chấp nhận.

Quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận. [3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo củaông Đỗ Văn T1không được chấp nhận nhưng ông T1 là người Cao tuổi nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhân kháng cáo của ông Đỗ Văn T1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23/4/2024củaTòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ vào:Khoản 1 Điều 8, Khoản 1,2 Điều 11, Điều 115, 164, 169, 500,501, 502,503 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 và Điều 170 Luật đất đai; Điểm đ Điều 12, khoản 1 Điều 29Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình Lvà chị Đặng Thị Tđối với ông Đỗ Văn T1.

Công nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Đình Lvà chị Đặng Thị Ttheo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 329924 do UBND huyện Tcấp ngày 03/10/2019 có diện tích là 527m2 (trong đó có 100m2 đất ở, 427m2 đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 05 (Theo sơ đồ tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên) và trích đo địa chính hiện trạng thửa đất ngày 18/01/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai và phát triển quỹ đất huyện Ttheo chỉ giới 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,1 (có sơ đồ kèm theo).

Buộc ông Đỗ Văn T1phải trả lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Nguyễn Đình Lvà chị Đặng Thị Ttheo chỉ giới: 3,4,5,6,11,12,9,10,3 (có sơ đồ trích đo địa chính hiện trạng thửa đất do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và phát triển quỹ đất huyện Tđo đạc ngày 18/01/2024)

Buộc ông Đỗ Văn T1chấm dứt mọi hành vi xâm phạm quyền sử dụng đất ghi trên của vợ chồng anh Nguyễn Đình Lvà chị Đặng Thị T.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ôngĐỗ Văn T1không được chấp nhậnnhưng ông T1là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Phần quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ khi tuyên án.

Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh Phú Thọ;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Tam Nông;

- TAND huyện Tam Nông;

- Chi cục THADS huyện Tam Nông;

- Đương sự;

- Người BVQL cho đương sự;

Phạm Văn Toàn

- Lưu HS, AV;

C

ỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

______________________________________________________

TỈNH PHÚ THỌ

__________________

Bản án số: 01/2024/DS-ST

Ngày: 30-01-2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng

đất”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tòa phiên tòa:Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hoa

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

- Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Ngọc P1– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọtham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy H3- Kiểm sát viên.

Ngày 30, 31 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2020/TLST-DS ngày 15 tháng 10 năm 2020 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định Thông báo về việc mở phiên tòa số: 14/2024/TB-TA ngày 11 tháng 01 năm 2024;

Nguyên đơn: Bà Trần Thị T5, sinh năm 1959; trú tại: Khu F, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có mặt;

Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1977, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bà Lỗ Thị H4, sinh năm 1978, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Cùng trú tại: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

3. Bà Khuất Thị H5, sinh năm 1954

Trú tại: Khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Quang S, sinh năm 1981; Trú tại: Khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có mặt

4. Anh Nguyễn Quang S, sinh năm 1981; Trú tại: Khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đặng Kim T7, sinh năm 1981; trú tại: Số E, ngách B L, phường B, quận T, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị T5, sinh năm 1965; trú tại: Khu F, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ;

2. Anh Đặng Quang H6, sinh năm 1983; trú tại: Khu F, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị T5, sinh năm 1965; trú tại: Khu F, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ;

3. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990; trú tại: Khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Quang S, sinh năm 1981; Trú tại: Khu 8, xã Phù Ninh, huyê ̣n Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

4. Ông Nguyễn Quyết T8, sinh năm 1954; trú tại: Tổ C, khu A, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, có đơn xin xét xử vắng mặt.

5. Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1960 và bà Đặng Thị Hồng P2, sinh năm 1970; cùng trú tại: Tổ D, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; đều có đơn xin xét xử vắng mă ̣t.

6. Bà Trần Thị T9, sinh năm 1970; trú tại: Khu E, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có đơn xin xét xử vắng mặt

7. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1982; trú tại: Khu E, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có đơn xin xét xử vắng mặt.

8. Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trung K- công chứ c đi ̣a chinh, có đơn xin xét xử vắng mặt;

́

9. Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ; Người địa diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Ngọc Q - Phó Trưởng phòng tài nguyên và môi trường, có đơn xin xét xử vắng mặt

10. Ông Khuất Ngọc T10(Nguyên là cán bô ̣ đi ̣a chinh UBND xã Ptừ năm

́ 1990 đến năm 2003); trú tại: Khu G, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có đơn xin xét xử vắng mặt

11. Ông Nguyễn Đăng K1(Nguyên là Bi thư đả ng ủy xã Ptừ năm 1990-

́

1999), sinh năm 1950; trú tại: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ-, có đơn xin xét xử vắng mặt.

12. Ông Trần Mạnh C1(Nguyên là Chủ tịch UBND xã Ptừ năm 1992-1999), sinh năm 1949, trú tại: Khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có đơn xin xét xử vắng mặt.

13.Công ty cổ phần D; địa chỉ: Khu H, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Đức H7, có đơn xin xét xử vắng mặt.

14. Chị Nguyễn Thị L3, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trần Thị T5trình bày:

Ngày 18/10/1993, bà có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị C2(là em gái của ông Nguyễn Quang P3, đa chết năm 2002) 01 thữ

̉ a đất có diê ̣n tich 120m2

́ (trong đó có 90m2 đất ở và 30m2 đất vườ n), có chiều rộng mặt đường Quốc lộ 2 là 6m, sâu là 20m. Vị trí thửa đất nhìn hướng trong ra ngoài thì phía trước giáp hành lang giao thông đườ ng quốc l ộ 2, phía sau là đất sắncủa hô ̣ ông P3, phía bên trái giáp đất của hộ ông B(nay là hô ̣ ông Q, phía bên phải giáp đất hộ ông P3. Diện tích đất này có thể thuô ̣c thử a số 152-1, tờ bản đồ số 36 hoă ̣c thử a số 101, tờ bản đồ số 51 tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ

Theo bà được biết , nguồn gốc thử a đất của bà C2là do UBND huyện P(nay là huyện P) cấp cho bà C2theo quyết đi ̣nh số 445 năm 1987 là 360m2 đất thổ cư. Bà C2đa chuyển nhượng cho ông Bvà bà phần diện tích đẫ

́t này.

Vì lý do cá nhân nên bà không đứng tên trên hợp đồng và các giấy tờ thủ tục chuyển nhượng đất mà nhờ em gái là bà Trần Thị T9đứ ng tên hô ̣. Tại toàn bộ các giấy tờ như Giấy chuyển nhượng đất ngày 18/10/1993 của bà Nguyễn Thị C2, Biên lai thu lê ̣ phi trướ c ba ̣ ngày 22/12/1993, Tờ khai thuế thu nhâ ̣p ngày 18/12/1993, tờ

́ khai chuyển di ̣ch quyền sở hữu sử du ̣ng nhà đất nô ̣p lê ̣ phi trướ c ba ̣, Biên bản kiểm

́ tra tinh đich thực về viê ̣c mua bán nhà đất ngày 18/10/1993, Biên bản thu tiền mă ̣t

́

́ ngày 15/11/1993, quyết đi ̣nh về giao đất có nhà số 596/QĐ-UB ngày 25/02/1994, biên bản giao đất ... đều đứng tên bà T9nhưng toàn bô ̣ là tiền của bà . Viê ̣c chuyển nhượng thử a đất trên đề u do bà và UBND xa giao đẫ

́t trên thực đi ̣a , bà cũng là ngườ i đi nhâ ̣n đất, đi đóng co ̣c xung quanh nhà đất. Bà là người quản lý đất từ năm 1994 cho đến năm 2000 thì bà có thỏa thuận với bà H5đổi phần đất mua bán với bà C2để lấy phần diện tích đất thuộc thửa 80-2, tờ bản đồ số 36 (phần đất phía bên trên phần đất mua của bà C2. Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là một phần của thửa đất 95 và 96, tờ bản đồ số 51). Bà đã cùng bà H5đến Ủy ban nhân dân xã Pđể làm thủ tục đổi đất này. Khoảng năm 2019 bà mớ i phát hiê ̣n anh Sxây nhà cho vợ bán hàng trên thửa đất bà nhận chuyển nhượng của bà C2nhưng do bà đã đổi lấy 120m2 thuộc thửa đất 80-2 nên tại thời điểm đó bà không có ý kiến gì. Sau khi nhâ ̣n chuyển nhượng bà và bà T9không kê khai đất, không đi làm thủ tu ̣c sang tên cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đ ối với phần đất mua cua bà C2ban đầu thuộc thửa 152-1. Do chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà không đóng thuế đất sau khi mua, bà chỉ đóng những lệ phí mà bà cung cấp hóa đơn cho Tòa án.

Sau đó bà tim hiểu m ới biết UBND huyện Pđa cẫ ́p giấy chứ ng nhâ ̣n quyền

̀ sử du ̣ng đất cho ông P3và bà H5vào ngày 26/12/2001 vớ i tổng diê ̣n tich là

́ 1.336m2, trong đó có bao gồm cả thử a đất của bà nhâ ̣n chuyển nhượng của bà C2. Ngày 02/7/2003, ông P3, bà H5đa chuyển nhượ̃

ng 1 phần đất có diê ̣n tich 200m2

́ (100m2 đất ở và 100m2 đất vườ n) trong tổng diê ̣n tich của ông bà cho ông Nguyễn

́ Quyết T8với giá 20.000.000đ (Hai mươi triê ̣u đồng ). Ngày 14/8/2003 UBND huyện Pđa cẫ ́p giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho ông T8. Phần đất ông P3, bà H5chuyển nhượng cho ông T8có 120m2 đất bà C2đa chuyển nhượ̃

ng cho bà từ năm 1993.

Ngày 27/3/2014, ông T8chuyển nhượng toàn bô ̣ thử a đất trên cho ông Ngô Văn Đvà bà Đặng Thị Hồng P2vớ i số tiền 100.000.000đ (Mô ̣t trăm triê ̣u đồng ) và UBND huyện Pđa cẫ ́p giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho vợ chồng ông Đ, bà P2ngày 14/8/2017.

Ngày 21/8/2017, ông Đ, bà P2lại chuyển nhượn g la ̣i thử a đất trên cho ông Ngô Văn T11và bà Lỗ Thị H4vớ i giá 218.000.000đ (Hai trăm mườ i tám triê ̣u đồng). Ông T11, bà H4đa đượ̃

c UBND huyện Pcấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất ngày 11/10/2017. Hiê ̣n nay, trên đất của ông T11, bà H4có 01 nhà cấp 4, ghi là Siêu T12nhưng bà không biết rõ chủ sở hữu thực sự là ai.

Bà đề nghị Tòa án buộc ông T11, bà H4, ông S, bà H5trả cho bà 120m2 đất thuộc thửa số 152-1, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là thử a số 101, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọmà bà mua của b à C2và dỡ bỏ các công trình trên đất để trả lại đất cho bà.

Tại phiên tòa bà bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án ông T11, bà H4, ông S, bà H5trả cho bà 120m2 đất thuộc thửa số 152-1, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là thử a số 101, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọmà bà mua của bà C2và dỡ bỏ các công trình trên đất để trả lại đất cho bà. Nếu không trả cho bà 120m2 đất thuộc thửa số 152-1, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là thử a số 101, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọmà bà mua của bà C2thì phải trả cho bà 120m2 đất thuộc thửa số 80-2, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là một phần thuộc thử a số 95 và 96, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn T6và bà Lỗ Thị H4thống nhấttrình bày:

Ông bà nhâ ̣n chuyển nhượng thử a đất số 101, tờ bản đồ số 51, diê ̣n tich

́ 212,8m2 (trong đó có 100m2 đất ở , 112,8m2 đất trồng cây lâu năm) tại địa chỉ khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọcủa ông Ngô Văn Đvà bà Nguyễn Thị Hồng P4vào ngày 21/8/2017 và đã được UBND huyện Pcấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất ngày 11/10/2017.

Viê ̣c nhâ ̣n chuyển nhượng đất của ông bà vớ i ông Đ, bà P4là ngay tình vì thờ i điểm đó ông Đ, bà P4đa cõ ́ giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất nên hai bên có lâ ̣p hợp đồng chuyển nhượng có công chứ ng . Ông bà được biết thử a đất này ông Đ, bà P4nhâ ̣n chuyển nhượng la ̣i của ông T8và ông T8cũng đã được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất . Ông bà nhâ ̣n chuyển nhượng đất là hợp pháp và thực hiê ̣n đầy đủ các nghia vu ̣̃

vớ i nhà nướ c. Trên đất hiê ̣n nay ông bà xây dựng 01 nhà cấp 4 để mục đích kinh doanh siêu th ị nhưng do cô vit khó khăn nên ta ̣m thờ i cho anh Sthuê để kinh doanh . Các tài sản trên đất là của ông bà, không phải của anh Shay bà H5.

Ông bà không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của bà T5vì ông bà nhâ ̣n chuyển nhượng ngay tinh, hợp pháp và không thể biết , không buô ̣c phải biết nguồn gốc xa

̀ xưa của các chủ sử du ̣ng đất và không liên quan gi đến bà C2, bà T9hay vợ chồng

̀ ông P3, bà H5. Đây là tài sản của gia đinh ông bà nên đề nghi ̣ Tòa án cũng như cơ

̀

quan nhà nướ c bảo vê ̣ các quyền năng của chủ sở hữu, sử du ̣ng tài sản.

Đối với việc Tòa án xem xét , thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ ông bà không có ý kiến gi .

̀ Viê ̣c anh Sđề nghị Tòa án định giá tài sản, bà T9không đề nghi ̣ đi ̣nh giá tài sản nhà đất là quyền của ho ̣, ông bà không liên quan. Đề nghi ̣ Tòa án giải quyết vu ̣ án theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t . Do ông bà ở xa nên từ chối tham gia các phiên ho ̣p kiểm tra viê ̣c giao nô ̣p, tiếp câ ̣n, công khai chứ ng cứ và các phiên hòa giải , phiên tòa xét xử vu ̣ án ta ̣i Tòa án các cấp. Ông bà không yêu cầu phản tố.

Bà Khuất Thị H5, do anh Slà đại diện theo ủy quyền, anh Nguyễn Quang Sđều thống nhất trình bày:

Thử a đất mà bà T5khở i kiê ̣n có nguồn gốc là mô ̣t phần đất của thử a đất do ông P3, bà H5khai hoang từ năm 1976. Đất sử dụng trồng sắn đến năm 1987 toàn bô ̣ gia đinh ông P3, bà H5và các con chuyển ra khu đất này làm nhà ở , trồng cây

̀ cối và sinh sống ổn đi ̣nh từ đó đến nay.

Ngày 10/11/1987, ông P3được UBND huyện Pgiao đất theo quyết đi ̣nh số 458/QĐ diê ̣n tich 360m2 đất ở ta ̣i vi ̣ tri đất hiê ̣n nay đang có nhà ở

. Ngày

́

́

26/12/2001, UBND huyện Pcấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho ông P3, bà H5tại thửa đất số 152-1, tờ bản đồ số 36, diê ̣n tich 1.336m2 (trong dó có 300m2

́ đất ở và 1.36m2 đất vườ n).

Ngày 04/8/2003, ông P3, bà H5có chuyển nhượng 200m2 đất (100m2 đất ở và 100m2 đất vườ n) cho ông T8, diê ̣n tich đất còn la ̣i là 1.136m2 (trong đó còn

́

200m2 đất ở và 930m2 đất vườ n ). Ngày 10/5/2006, UBND huyện Pcấp đổi giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất sang tên bà H5do năm 2002ông P3chết.

Ngày 20/10/2010, bà H5chuyển nhượng 100m2 đất (trong đó có 65m2 đất ở và 35m2 đất vườ n) cho ông Nguyễn Quang H8ở thị trấn Pvà tặng cho anh S519m2 đất vườ n. Bà P3chỉ còn sử dụng 517m2 (trong đó có 135m2 đất ở và 582m2 đất vườ n).

Ngày 12/12/2014, theo chương trinh đo đa ̣c la ̣i b ản đồ số nên bà H5được

̀

UBND huyện Pcấp đổi la ̣i giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số BO 138179, số vào sổ CH 00542, được thay đổi số thử a mớ i là thử a số 96, tờ bản đồ số 51, diê ̣n tích 575,3m2 (trong đó có 135m2 đất ở và 440,3m2 đất trồng cây lâu năm ), diê ̣n tích đất tăng lên được xác định do sai số đo đạc cũ.

Toàn bộ diện tích đất của ông P3, bà H5được gia đinh ông bà khai hoang và

̀ sinh sống ổn đi ̣nh, được nhà nướ c cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất có xác nhâ ̣c của khu dân cư , trướ c khi có đ ơn của bà T5, không có bất kỳ sự tranh chấp nào, ranh giớ i thử a đất rõ ràng và gia đinh ông P3, bà H5đều thực hiện nghiêm

̀

chỉnh nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước.

Bà T5tranh chấp ta ̣i phần đất bà H5chuyển nhượng cho ông T8là không đúng bở i vi ta ̣i phần đất này khi chuyển nhượng cho ông T8thì có 01 nhà cấp 4, ba

̀ gian lợp ngói cùng các công trinh phu ̣ mà cả gia đinh ông P3, bà H5cùng các con

̀

̀ sinh sống từ trướ c thờ i điểm có hồ sơ mua bán đất của bà Thủy cung c. Viê ̣c bà Thủy cung cgiấy tờ mua bán đất vớ i bà C2tại vị trí đất hiện nay bà T5chỉ là không có căn cứ vì bà C2không có đất trên thực đi ̣a ta ̣i thờ i điểm có quyết đi ̣nh giao đất (Bà C2lúc đó có nhà đất ở nơi khác tại khu E, xã P, huyện P, sau đó cho con trai là anh Nguyễn Văn Mđứng tên và cấp bìa đỏ). Hơn nữa cùng vớ i viê ̣c quyết đi ̣nh giao đất của bà C2có điểm nghi vấn là cùng số quyết định với quyết định giao đất của ông P3nhưng ngày 11/10/1987.

Quá trình nhận chuyển nhượng đất của ông P3, bà H5, ông T8được UBND huyện Pcấp bìa đỏ và chuyển nhượng lại cho ông Đ, bà P4. Ông Đ, bà P4được cấp bìa đỏ và chuyển nhượng lại ông T6, bà H4, ông bà Tám H9đã được UBND huyện Pcấp bìa đỏ. Đối với nhà ở và công trình trên đất là của ông T6, bà H9, không phải của anh S, bà H5và ông Tám H9cho Công ty cổ phần Dthuê đất để làm xưởng may gia công, việc thuê đất và tài sản trên đất có hợp đồng. Bà T5cho rằng tài sản nhà xây trên đất là của anh Slà không đúng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận vì ông P3, bà H5sử dụng đất hợp pháp, được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thửa đất này đã chuyển nhượng cho nhiều người. Suốt quá trình từ khi bà T5cho rằng bà T9nhận chuyển nhượng của bà C2là 26 năm nhưng bà T9hay bà T5không sử dụng hay quản lý đất nay đi khởi kiện đòi đất là điều vô lý. Hơn nữa có điểm bất hợp lý là Quyết đi ̣nh giao đất cho bà C2tại vị trí bà T5hiện nay đang khởi kiện nhưng trong sổ địa chính, sổ mục kê hay bản đồ địa chính không thể hiện bà C2có đất tại khu vực này. Điều này đã được con trai bà C2là anh Nguyễn Văn Mthừa nhận là bà C2có đất tại khu vực khác trong làng nhưng không đứng tên mà cho con trai đứng tên. Tại hồ sơ chuyển nhượng đất của bà C2vớ i bà T9là không hợp pháp, bà T9hiện nay trốn tránh việc tham gia tố tụng tại Tòa án chứng tỏ hồ sơ chuyển nhượng giữa bà T9và bà C2là có điều khuất tất. Bản thân ông T10là cán bộ địa chính xã thời điểm đó đã xác nhận chính ông là người đứng ra làm toàn bộ hồ sơ, mọi chữ viết trong toàn bộ giấy tờ và các chữ viết ghi tên “Nguyễn Thị C2” đều do ông viết. Bà H5, anh S, chị Nđều không có yêu cầu phản tố.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

ChịĐặng Kim T7và anh Đặng Quang H6, do bà T5là đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất trình bày như lời trình bày của bà T5như trên. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà T5. Không có yêu cầu độc lập.

Chị Nguyễn Thị N, do anh Slà đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất với lời trình bày của anh Snhư trên. Đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của bà T5. Không có yêu cầu độc lập.

Anh Nguyễn Văn Mtrình bày:

Anh là con duy nhất của bà Nguyễn Thị C2, bà C2đã chết năm 1998. Mẹ anh là em gái ông Nguyễn Văn P5, em dâu của bà Khuất Thị H5. Mẹ anh độc thân, không có đăng ký kết hôn hay chung sống với ai. Anh được biết mẹ anh có nhà đất tại khu E, xã P, huyện Pthời điểm trước năm 1987, không có nhà đất tại khu H, xã P, huyện Phay ở khu vực nào khác, cũng không được nhà nước giao đất. Phần đất mẹ anh ở có nguồn gốc là đất cha ông để lại là thửa số 180, tờ bản đồ số 36, diện tích 2.190m2 trong đó có 300m2 đất ở, còn lại là đất vườn. Mẹ anh không đứng tên thửa đất trên mà cho anh đứng tên và anh được UBND huyện Pcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001.

Tòa án đã cho anh sao chụp các tài liệu do các đương sự khác xuất trình. Anh khẳng định các chữ ký, chữ viết “Cẩm”, “Nguyễn Thị C2” tại Giấy chuyển nhượng đất thổ cư đề ngày 18/10/1993; Biên bản kiểm tra ti nh đich thực về viê ̣c

́

́ mua bán nhà đề ngày 18/10/1993; Tờ khai nô ̣p thuế thu nhâ ̣p đề ngày 18/12/1993; Tờ khai chuyển dịch nhà đất và tờ khai nô ̣p lê ̣ phi trướ c ba ̣ đề ngày 18/12/1993 do

́ bà T5xuất trình không phải chữ ký, chữ viết của mẹ anh.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T5anh không đồng ý. Phần đất tranh chấp đã được chuyển nhượng qua nhiều người và lần nào cũng được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc giải quyết vụ án không liên quan đến anh nên anh đề nghị Tòa án không báo gọi anh, anh không có yêu cầu độc lập và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Nguyễn Quyết T8trình bày:

Ngày 02/7/2003, bà H5đa chuyển nhượ̃

ng cho ông diê ̣n tich 200m2 (100m2

́ đất ở và 100m2 đất vườ n) tại thửa đất 152-1 tại khu N lớn, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọvớ i số tiền là 20.000.000đ (Hai mươi triê ̣u đồng ). Ngày 14/8/2003 UBND huyện Pđa cẫ ́p giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho ông.

Ngày 27/3/2014, ông la ̣i chuyển nhượng toàn bô ̣ thử a đất này cho ông Ngô Văn Đvà bà Đặng Thị Hồng P2vớ i số tiền 100.000.000đ (Mô ̣t trăm triê ̣u đồng ) và UBND huyện Pđa cẫ ́p giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho vợ chồng ông Đ, bà P2.

Ông thừ a nhâ ̣n ta ̣i thờ i điểm ông nhâ ̣n chuyển nhượng của bà H5thì trên đất có 01 nhà cấp 4, ba gian lợp ngói cùng các công trinh phu ̣ của ông P5, bà H5. Sau

̀ này ông Đ, bà P2sử du ̣ng đất hay chuyển nhượng cho ai ông không được biết.

Nay bà T5khở i kiê ̣n ông T6, bà H9đòi đất quan đi ểm của ông không liên quan vi ông đa nhâ ̣̃

n chuyển nhượng hợp pháp của bà H5và sau đó chuyển nhượng

̀ hợp pháp cho ông Đ, bà P2. Do công viê ̣c bận và không còn quyền lợi, nghĩa vụ gì nên ông không có yêu cầu đô ̣c lâ ̣p , không có ý kiến gi về viê ̣c khở i kiê ̣n và từ chối

̀ tham gia các phiên ho ̣p kiểm tra viê ̣c giao nô ̣p , tiếp câ ̣n, công khai chứ ng cứ ; các phiên hòa giải, phiên tòa xét xử vu ̣ án ta ̣i Tòa án các cấp.

Ông Ngô Văn Đvà bà Nguyễn Thị Hồng P4trình bày:

Ngày 27/3/2014 tại Văn phòng Công chứng Lâm Thao tỉnh Pông T8đa ̃ chuyển nhượng cho ông bà thử a đất số

152-1, tờ bản đồ số 36, diê ̣n tich

́ 200m2(100m2 đất ở , 100m2 đất vườ n ) vớ i giá là 100.000.000đ (Mô ̣t trăm triê ̣u đồng). Khi chuyển nhượng thi ông T8đa cõ ́ giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất .

̀ Do đa cõ ́ hợp đồng công chứ ng và chưa có nhu c ầu sử dụng đất nên đến năm 2017 ông bà mớ i có nhu cầu cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất . UBND huyện Pđa ̃ cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho vợ chồng ông bà ngày 14/8/2017 vớ i số thử a mớ i đổi la ̣i là 101, tờ bản đồ số 51, diê ̣n tich 212,8m2. Nguyên nhân thay

́ đổi số thử a và diê ̣n tich là do thay đổi bản đồ số nên có sai số trong đo đa ̣c nên

́ diê ̣n tich có tăng thêm so vớ i khi nhâ ̣n chuyển nhượng củ a ông T8. Do không có

́ nhu cầu sử du ̣ng nên ông bà chuyển nhượng la ̣i cho gia đinh ông bà Tám H9vào

̀ ngày 21/8/2017 vớ i giá là 218.000.000đ (Hai trăm mườ i tám triê ̣u đồng).

Ông T6, bà H9sử du ̣ng hay chuyển nhượng cho ngườ i khác ông bà không

biết. Đối với việc bà T5khở i kiê ̣n quan điểm của ông bà không liên quan và viê ̣c ông bà nhâ ̣n chuyển nhượng của ông T8là ngay tình , khi chuyển nhượng cho ông Tám H9cũng hoàn toàn hợp pháp . Hiê ̣n nay ông bà không có quyền lợi , nghĩa vụ gì liên quan đến thửa đất trên , không có yêu cầu đô ̣c lâ ̣p . Ông bà đề nghi ̣ được vắng mă ̣t trong các phiên ho ̣p kiểm tra viê ̣c giao nô ̣p , tiếp câ ̣n, công khai chứ ng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử của Tòa án.

Bà Trần Thị T9trình bày: Bà là em dâu của bà T5còn những người khác thì không có mối quan hệ gì. Năm 1994 bà T5có nhờ bà và chồng bà, ông Đặng Kim L4(đã chết năm 1995) đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và toàn bộ các giấy tờ kèm theo để nhận đất của C2. Việc mua bán đất do bà T5mua bán và làm thủ tục. Đến nay, bà xác định đất là của bà T5, không liên quan đến bà. Bà chưa bao giờ gặp bà C2, không biết thửa đất đó là thửa đất nào, ở đâu. Bà không biết ông T10, ông C1và ông K1. Chữ ký, chữ viết của bà và chồng bà trong các giấy chuyển nhượng đất thổ cư đề ngày 18/10/1993, biên bản kiểm tra tính đích thực về việc mua bán nhà ngày 18/10/1993, tờ khai thuế thu nhập ngày 18/12/1993; tờ khai nộp lệ phí trước bạ đề ngày 18/12/1993 đều không phải chữ viết và chữ ký của bà và chồng bà, chữ ký và chữ viết đó là của bà T5. Bà không biết nội dung các văn bản này. Bà không nộp thuế. Bà khẳng định bà và các con bà không liên quan gì đến việc này. Bà không được xã thông báo nhận đất hay đo đạc đất trên thực địa. Bà xin vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm.

Ông Khuất Ngọc T10trình bày:

Từ năm 1990 đến năm 2003 ông là cán bô ̣ đi ̣a chinh của UBND xã P. Bà

́ C2là công dân của xã P. Năm 1993, bà C2có chuyển nhượng đất cho bà T9(bà T9có quê quán ở đâu ông không nhớ vì đã quá lâu rồi ). Do là cán bô ̣ đi ̣a chinh nên

́ ông là ngườ i trực tiếp làm thủ tu ̣c chuyển quyền sử du ̣ng đất . Đến nay ông không nhớ rõ việc chuyển nhượng đất cụ thể như thế nào. Ông chỉ nhớ thờ i điểm đó ông Nguyễn Đăng K1là bí thư đảng bộ có nhờ ông và ông Trần Mạnh C1làm giúp thủ tục chuyển nhượng từ bà C2chuyển nhượng cho bà T9.

Do thờ i gian đa lâu nên ông không nhỡ

́ các giây tờ cu ̣ thể như thế nào , chỉ nhớ có 01 giấy viết tay và hợp đồng chuyển nhượng nên ông đa lã ̀m thủ tu ̣c chuyển nhượng theo quy đi ̣nh. Sau khi được Tòa án cho xem Giấy chuyển nhượng đất thổ cư đề ngày 18/10/1993 do bà T5nô ̣p ông thừ a nhâ ̣n toàn bô ̣ chữ viết trong giấy chuyển nhượng này là của ông (bao gồm cả phần viết tên “ Nguyễn Thị C2” dướ i phần chữ ký ) còn phần chữ ký thì ông không biết ai ký . Ông thừ a nhâ ̣n toàn bô ̣ chữ viết ta ̣i Biên bản kiểm tra tinh đich thực về viê ̣c mua bán nhà đề ngày

́

́

18/10/1993 là chữ viết của ông . Tại mục bên bán có chữ ký “Cẩm” và bên mua có chữ ký “Lương”, “Tuyết”, không ghi rõ ho ̣ tên, ai là ngườ i ký , có đúng chữ ký của bà C2, bà T9, ông L4hay không đến nay ông không nhớ . Tại tờ khai nộp thuế thu nhâ ̣p đề ngày 18/12/1993; tờ khai chuyển dich nhà đất và tờ khai nô ̣p lê ̣ phi trướ c

́ bạ đề ngày 18/12/1993 thì toàn bộ chữ viết tại mục 1,2 ở phần tự kê khai là chữ viết của ông còn ta ̣i m ục “Người giao tài sản” có chữ ký “Cẩm” và người nhận tài sản có chữ ký “Tuyết” thì ông không biết của ai.

Bà T5cho rằng bà là ngườ i bỏ tiền mua đất của bà C2và chỉ nhờ bà T9đứ ng tên ông không biết cu ̣ thể như thế nào . Thờ i điểm đó bà T5đứ ng ra mua đất vớ i bà C2, đứ ng ra nhâ ̣n đất ta ̣i thực đi ̣a , đóng co ̣c thi hiê ̣n nay do đa lâu nên ông không̃

̀

nhớ chinh xác có đúng không . Ông không nhớ có làm viê ̣c trực tiếp vớ i bà T5hay

́ không chi nhở

́ ông K1đưa hồ sơ nhờ ông làm hô ̣ chứ không nhâ ̣n hồ sơ từ bà

T5hay bà C2hoă ̣c bà T9. Vị trí đất mà ông làm hồ sơ thì đến nay ông cũng không xác định được và ông không nhớ có cùng bà T5hoă ̣c bà T9, bà C2ra giao đất ta ̣i thực đi ̣a hay không vi thờ i gian đa lâu.̃

̀

Tòa án đã cho ông xem và đối chiếu 02 quyết đi ̣nh của bà C2và của ông P5có trùng nhau như lời anh Strình bày hay không thì ông không biết do mực mờ không nhin rõ. Đến nay ông cũng không xá c đi ̣nh được phần đất cấp cho ông P5và

̀ bà C2nằm ở vi ̣ tri nào và có chồng lấn lên nhau hay không.

́

Tại thời điểm làm cán bộ địa chính xã ô ng xác nhâ ̣n bà C2có nhà đất tạikhu E, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, nguồn gốc đất ông cha nhưng bà C2cho con trai là anh Mđứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại các bản đồ địa chính, sổ mục kê, sổ địa chính lưu tại UBND xã Pthì bà C2không sử dụng thửa đất nào. Nguyên nhân tại sao như vậy đến nay ông không được rõ vì thời gian quá lâu.

Đối với phần đất hiện nay bà T5đang tranh chấ p thi ông xác nhâ ̣n gia đinh

̀

̀ ông P5, bà H5cùng các con sinh sống khai hoang trồng sắn từ năm 1987. Lúc đó bà C2là em gái ông P5cũng ra ở cùng ông P5bà H5mô ̣t thờ i gian còn bao lâu thi ông

̀ không nhớ.

Ông đề nghi ̣ Tòa án thu thâ ̣p các chứ ng cứ và hồ sơ chuyển nhượng bản

chính từ bà T5để giám định theo yêu cầu của ông Svì đến nay thời gian đã lâu nên ông không còn nhớ và không dám khằng đi ̣nh các nô ̣i dung mà các đương sự trinh

̀ bày có đúng hay không.

Nay bà T5khở i kiê ̣n, ông đề nghi ̣ Tòa án giải quyết theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t. Do sứ c khỏe yếu và không có phương tiê ̣n đi la ̣i nên ông đề nghi ̣ vắng mă ̣t ta ̣i các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp câ ̣n, công khai chứ ng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử của Tòa án. Ông không có yêu cầu độc lập.

Ngày 20/7/2021, ông T10có bản tự khai bổ sung thể hiện:

Ông với bà T9, bà T5và các đương sự khác không có mối quan hệ gì. Ông không biết bà T9, bà T5là ai, chỉ duy nhất gặp bà T91 lần xuống xem đất còn bà T5ông chưa bao giờ gặp.

Ông thừa nhận toàn bộ nội dung viết trong Biên bản giao đất, Biên bản kiểm tra tính đích thực về việc mua bán nhà đề ngày 18/10/1993, Quyết định số 458 ngày 10/11/1987 và Quyết định số 496 ngày 25/2/1994 của UBND huyện P; Tờ khai chuyển quyền sử dụng, sở hữu nhà đất nộp lệ phí trước bạ và các tài liệu bà T5nộp liên quan đến việc chuyển nhượng đất giữa bà C2và bà T9là do ông điền theo các mẫu in sẵn. Toàn bộ chữ viết, chữ ký “Cẩm”, “Nguyễn Thị C2”, “T9”, “Nguyễn Thị T13” thể hiện trong các văn bản trên là do ông tự viết, tự ký.

Tại giấy chuyển nhượng đất thổ cư đề ngày 18/10/1993 có nội dung bà Nguyễn Thị C2chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị T1301 căn nhà và 90m2 đất thổ cư hoàn toàn là chữ ký, chữ viết của ông chứ bà C2không viết và không ký. Ông chưa bao giờ làm việc với bà C2, bà T13hay bà T5. Lời khai của bà T5về việc bà có đi nhận đất tại thực địa có đại diện UBND xã và có ông tham gia là không đúng.

Ông Nguyễn Đăng K1trình bày:

Thờ i điểm năm 1990-1999, ông là bi thư đảng ủy xã P. Quá trình công tác

́

nhiệm vụ của ông là thực hiện công tác Đảng. Về việc chuyển nhượng đất của bà Nguyễn Thị C2cho bà Trần Thị T9, Trần Thị T5thế nào ông không được rõ. Ông không chỉ đạo UBND bất kỳ nội dung nào liên quan đến việc chuyển nhượng đất này. Ông không biết bà Trần Thị T9, bà Trần Thị T5là ai và không có bất cứ sự liên quan nào đến vụ án, đề nghị Tòa án không báo gọi ông đến làm việcông đề nghị xét xử vắng mặt.

Ông Trần Mạnh C1trình bày:

Ông giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã Ptừ năm 1992-1999. Việc chuyển nhượng đất giữa bà C2với bà T9như thế nào đến nay ông không nhớ rõ được vì thời gian đã lâu. Tòa án đã cho ông sao chụp chứng cứ tài liệu do các đương sự khác nộp ông thấy rằng chữ ký, dấu chức danh, dấu của UBND xã trong Biên bản kiểm tra tinh đich thực về viê ̣c mua bán nhà đề ngày 18/10/1993, Biên bản giao đất

́

́ đề ngày 08/4/1994 đúng là chữ ký của ông và dấu của UBND xã.

Công ty cổ phần Ddo ông Trần Đức H7trình bày:

Ngày 01/01/2021, do có nhu cầu thuê nhà xưởng để làm gia công may quần áo nên thay mặt công ty ông và ông T6, bà H9ký hợp đồng thuê đất và tài sản trên đất đối với thửa đất số 101, tờ bản đồ số 51, diê ̣n tich 212,8m2 tại đi ̣a chi khu H,̉

́ xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọcủa vợ chồng ông bà. Số tiền thuê là 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng)/năm (từ 01/01/2021 đến 31/12/2023). Công ty đã thanh toán toàn bộ số tiền thuê.

Sau đó, công ty đã chuyển toàn bộ máy móc, vật tư và thuê nhân công đến để gia công may xuất khẩu cho đến nay công ty vẫn hoạt động sản xuất. Việc hai bên ký hợp đồng thuê đất là đúng quy định do ông T6, bà H9đã được UBND huyện Pcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Công ty đề nghị ông T6, bà H9vẫn phải tiếp tục hợp đồng thuê đất còn việc Tòa án giải quyết đất của ai không liên quan đến công ty. Công ty không có yêu cầu độc lập và xin giải quyết vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân xã Pdo ông Trần Trung Ktrình bày:

Vị trí thửa đất bà T5đề nghị giải quyết tranh chấp trên thực địa đối chiếu với hồ sơ địa chính cho thấy:

- Theo sơ đồ địa chính năm 2001, thửa đất tranh chấp là một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 152-1, tờ bản đồ số 36;

- Theo sơ đồ địa chính năm 2016, thửa đất tranh chấp là một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 101, tờ bản đồ số 51;

Thửa đất số 152-1, tờ bản đồ số 36 (hay thửa 101, tờ bản đồ số 51), đã được UBND huyện Pcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S598087 ngày 26/12/2001 cho hộ ông Nguyễn Quang P3, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H01068

Hiện nay, UBND xã không còn lưu giữ tài liệu, chứng cứ gì về việc mua bán nhà và đất ở đội D, xã Pgiữa bà C2và ông L4, bà T9ngày 18/10/1993.

UBND xã đã được Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh cho tiếp cận các tài liệu, chứng chứ có trong hồ sơ vụ án, trong đó có giấy chuyển nhượng đất thổ cư ngày 18/10/1993 bà C2có ký và ghi rõ họ, tên vào phần người làm đơn, Biên bản kiểm tra tính đích thực việc mua bán nhà và đất giữa bà C2và ông L4, bà T9ngày 18/10/1993; Biên lai thu lệ phí trước bạ ngày 22/12/1993 do bà Trần Thị T9nộp tiền; Tờ khai chuyển dịch quyền sở hữu, sử dụng nhà đất nộp lệ phí trước bạ ngày 18/12/1993 thể hiện việc chuyển nhượng nhà và đất ở đội D, xã Pgiữa bà C2và bà T5

Trong các hồ sơ, sổ quản lý đất đai mà UBND xã Pcòn lưu giữ cũng không thể hiện năm 1987 UBND xã, huyện có quyết định giao một phần hay toàn bộ thửa đất số 152-1 (thửa đất ban đầu với diện tích 1636m2), tờ bản đồ số 36 (hay thửa đất số 101, tờ bản đồ số 51); địa chỉ: khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọcho bà Nguyễn Thị C2. Cũng không thể hiện bà C2được cấp giấy chứng nhận quyền sử hữu nhà ở trên thửa đất này. Mặt khác, trong nội dung của hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ở đội D, xã Pgiữa bà C2và bà T5không thể hiện vị trí cụ thể nhà và đất là đối tượng giao dịch ở đâu tại đội 4, xã P.

Trình tự, thủ tục UBND huyện Pcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S598087 ngày 26/12/2001 cho hộ ông Nguyễn Quang P3đối với Thửa đất số 152-1, tờ bản đồ số 36 (hay thửa 101, tờ bản đồ số 51) là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Việc UBND huyện Pban hành quyết định hai số, ngày tháng năm giống nhau là 458/QĐ ngày 10/11/1987 cho ông P3và bà C2thì Ủy ban không rõ, do quyết định này được ban hành ở thời gian trước. Nay cũng không còn hồ sơ gì về việc ban hành quyết định này. Trước năm 2001, Bà C2có sử dụng thửa đất số 80, tờ bản đồ số 36, diện tích 2180m2, tại khu B, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ(Thửa đất này gần thửa đất của ông P3, nằm ở bên trong, không giáp đường quốc lộ). Hiện nay bà C2chết và không có quyền sử dụng thửa đất nào trên địa bàn xã P.

Nay UBND xã Pđề nghị giải quyết vụ án dân sự này theo đúng quy định của pháp luật.

Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ trình bày:

Vị trí thửa đất bà T5đề nghị giải quyết tranh chấp trên thực địa đối chiếu với hồ sơ địa chính cho thấy:

- Theo sơ đồ địa chính năm 2001, thửa đất tranh chấp là một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 152-1, tờ bản đồ số 36;

- Theo sơ đồ địa chính năm 2016, thửa đất tranh chấp là một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 101, tờ bản đồ số 51;

Thửa đất số 152-1, tờ bản đồ số 36 (hay thửa 101, tờ bản đồ số 51), đã được UBND huyện Pcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S598087 ngày 26/12/2001 cho hộ ông Nguyễn Quang P3, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H01068

Hiện nay, UBND huyện chỉ còn lưu giữ (đã cung cấp toàn bộ tài liệu, chứng cứ này cho Tòa án) giấy chuyển nhượng đất thổ cư ngày 18/10/1993 bà C2có ký và ghi rõ họ, tên vào phần người làm đơn, Biên bản kiểm tra tính đích thực việc mua bán nhà và đất giữa bà C2và ông L4, bà T9ngày 18/10/1993; Biên lai thu lệ phí trước bạn ngày 22/12/1993 do bà Trần Thị T9nộp tiền; Tờ khai chuyển dịch quyền sở hữu, sử dụng nhà đất nộp lệ phí trước bạ ngày 18/12/1993 thể hiện việc chuyển nhượng nhà và đất ở đội D, xã Pgiữa bà C2và bà T5.

Trong các hồ sơ, sổ quản lý đất đai mà UBND huyện Pđang lưu giữ, quản lý không thể hiện năm 1987 UBND huyện có quyết định giao một phần hay toàn bộ thửa đất số 152-1 (thửa đất ban đầu với diện tích 1636m2), tờ bản đồ số 36 (hay thửa đất số 101, tờ bản đồ số 51); địa chỉ: khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọcho bà Nguyễn Thị C2. Cũng không thể hiện bà C2được cấp giấy chứng nhận quyền sử hữu nhà ở trên thửa đất này. Mặt khác, trong nội dung của hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ở đội D, xã Pgiữa bà C2và bà T5không thể hiện vị trí cụ thể nhà và đất là đối tượng giao dịch ở đâu tại đội 4, xã P.

Trình tự, thủ tục UBND huyện Pcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S598087 ngày 26/12/2001 cho hộ ông Nguyễn Quang P3đối với Thửa đất số 152-1, tờ bản đồ số 36 (hay thửa 101, tờ bản đồ số 51) là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Hiện nay, bà C2đã chết và không có quyền sử dụng đất nào trên địa bàn xã P.

Việc UBND huyện Pban hành hai quyết định đều có số 458/QĐ và cùng ngày 10/11/1987 thì UBND huyện Pcũng không rõ, do quyết định này đã ban hành từ thời gian trước. Nay không còn hồ sơ gì về việc ban hành hai quyết định này, người ký ban hành quyết định này đã nghỉ hưu và không rõ địa chỉ cụ thể hiện nay ở đâu.

Nay UBND huyện Pđề nghị giải quyêt vụ án dân sự này theo đúng quy định của pháp luật.

Chị Nguyễn Thị L3trình bày:Hiện nay chị đang bán hàng tại cửa hàng do Công ty cổ phần Dthuê (cửa hàng trên phần đất tranh chấp). Chị chỉ mượn cửa hàng này để bán hàng. Chị xác định chị không liên quan đến tranh chấp giữa bà T5với ông bà T6, H9. Chị không đề nghị gì. Chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị

T14phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Sau đó đến phần xét hỏi về yêu cầu của nguyên đơn thì nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông T6, bà H9, ông S, bà H5trả cho bà 120m2 đất thuộc thửa số 152-1, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là thử a số 101, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọmà bà mua của bà C2và dỡ bỏ các công trinh trên đất để trả la ̣i đất cho bà . Nếu không trả cho bà 120m2 đất thuộc

̀ thửa số 152-1, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là thử a số 101, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọmà bà mua của bà C2thì phải trả cho bà 120m2 đất thuộc thửa số 80-2, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là một phần thuộc thử a số 95 và 96, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn giữ nguyên quan điểm của mình, không có yêu cầu phản tố.

Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ lên quan là bà H5và chị Nđều đề nghị Tòa án không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn.

Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ lên quan là chị T7, anh H6đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh , tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về viê ̣c tuân theo pháp luâ ̣t trong quá trinh giải quyết vu ̣ án của Thẩm phán ,

̀

Hô ̣i đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước kh i Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền Tòa án giải quyết: Tại đơn khởi kiện ngày 16/8/2020, bà T5có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông T6, bà H9trả lại cho bà phần diện tích đất là 120m2 thuộc thửa đất số 152-1, tờ bản đồ số 36 hoặc thửa 101, tờ bản đồ số 51, địa chỉ thửa đất: khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọcho bà và tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây trên đất này của bà. Sau đó bà bổ sung thêm người bị kiện là bà H5, ông S. Đây xác định đây là tranh chấp quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì tranh chấp là bất động sản và có địa chỉ tại xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọnên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Bị đơn xác định là ông T6, bà H9, ông Svà bà H5.

Về phạm vi khởi kiện: Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải vụ án đến trước khi Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án: Nguyên đơn đề nghi ̣ Tòa án buô ̣c ông T6, bà H9, ông S, bà H5trả cho bà 120m2 đất thuộc thửa số 152-1, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là thử a số 101, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọmà bà mua của bà C2và dỡ bỏ các công trình trên đất để trả lại đất cho bà.

Tại phần xét hỏi bà bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông T6, bà H9, ông S, bà H5trả cho bà 120m2 đất thuộc thửa số 152-1, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là thử a số 101, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọmà bà mua của bà C2và dỡ bỏ các công trình trên đất để trả lại đất cho bà . Nếu không trả cho bà 120m2 đất thuộc thửa số 152-1, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là thử a số 101, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọmà bà mua của bà C2thì phải trả cho bà 120m2 đất thuộc thửa số 80-2, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là một phần thuộc thử a số 95 và 96, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Thửa đất số 152-1 và thửa đất số 80-2 là hai thửa đất khác nhau. Do vậy, theo quy định tại Điều 5, Điều 188 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông T6, bà H9, ông S, bà H5trả cho bà 120m2 đất thuộc thửa số 152-1, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là thử a số 101, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọmà bà mua của bà C2và dỡ bỏ các công trình trên đất để trả lại đất cho bà. Đối với yêu cầu đề nghị Tòa án ông T6, bà H9, ông S, bà H5trả cho 120m2 đất thuộc thửa số 80-2, tờ bản đồ số 36 (Nay theo bản đồ địa chính năm 2016 là một phần thuộc thử a số 95 và 96, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọlà vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên tòa án không xem xét giải quyết trong cùng vụ án này. Bà T5có quyền khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để xem xét giải quyết yêu cầu vượt quá này.

Về nội dung:

- Về nguồn gốc thửa đất số 152-1, tờ bản đồ số 36 (nay là thử a số 101, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ:

Bà T5cho rằng: Ngày 18/10/1993, bà có nhận chuyển nhượng của bà

Nguyễn Thị C2(là em gái của ông Nguyễn Quang P3, đa chết năm 2002) 01 thữ

̉ a đất có diê ̣n tich 120m2 (trong đó có 90m2 đất ở và 30m2 đất vườ n), có chiều rộng

́ mă ̣t đườ ng Quốc lô ̣ 2 là 6m, sâu là 20m. Vị trí thửa đất nhìn hướng trong ra ngoài thì phía trước giáp hành lang giao thông đường quốc lộ 2, phía sau là đất sắncủa hô ̣ ôngP3, phía bên trái giáp đất của hô ̣ ông B(nay là hô ̣ ông Q, phía bên phải giáp đất hô ̣ ông P3. Diện tích đất này có thể thuộc thửa số 152-1, tờ bản đồ số 36 ( nay theo bản đồ 2016 là thử a số 101, tờ bản đồ số 51) tại khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Bà được biết nguồ n gốc thử a đất của bà C2là do UBND huyện P(nay là huyện P) cấp cho bà C2theo quyết đi ̣nh số 455 năm 1987là 360m2 đất thổ cư. Bà C2đa chuyển nhượ̃

ng cho ông B240m2 và chuyển nhượng cho bà 120m2 (nhưng để bà T9(em gái bà), ông L4(chồng bà T9) đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng này).

Ông S, bà H5và bà Ncho rằng: Thử a đất này nguồn gốc là mô ̣t phần đất của thử a đất do ông P3, bà H5khai hoang từ năm 1976 để sử du ̣ng trồng sắn. Đến năm 1987 gia đinh ông P3, bà H5và các con chuyển ra khu đất này làm nhà ở , trồng cây

̀ cối và sinh sống . Ngày 10/11/1987, ông P3được UBND huyện Pgiao đất theo quyết đi ̣nh số 458/QĐ diê ̣n tich 360m2 đất ở ta ̣i vi ̣ tri đất hiê ̣n nay đang có nhà ở .

́

́ Ngày 26/12/2001, UBND huyện Pcấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho ông P3, bà H5tại thửa đất số 152-1, tờ bản đồ số 36, diê ̣n tich 1.336m2 (trong dó có

́ 300m2 đất ở và 1.36m2 đất vườ n).

Tài liệu, chứng cứ mà bà T5và anh Sgiao cho Tòa án là 02 Quyết định của UBND huyện P, tỉnh Phú Thọ về việc giao đất cho bà C2và ông P3. Hai quyết định này đều thể hiện cùng số 458 và cùng ngày 10/11/1987. Tuy nhiên, tại quyết định giao đất cho bà C2vị trí giao đất là khu vực núi bằng, còn vị trí giao đất cho ông P3là khu vực Nđẩu.

Ngoài ra bà T5còn giao thêm: 01 Biên bản giao đất ngày 16/4/1994 của UBND xã P; 01 Quyết định số 596 ngày 25/02/1994 của UBND huyện Pvề việc chuyển giao đất có nhà; giấy chuyển nhượng đất thổ cư đề ngày 18/10/1993, biên bản kiểm tra tính đích thực về việc mua bán nhà ngày 18/10/1993, tờ khai thuế thu nhập ngày 18/12/1993; tờ khai chuyển dịch quyền sử hữu, sử dụng nhà đất nộp lệ phí trước bạ đề ngày 18/12/1993; Biên lai thu lệ phí trước bạ ngày 22/12/1993; Chứng nhận hợp đồng mua bán nhà ở số 171 ngày 18/10/1993 của UBND huyện P. Anh Sgiao hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P3(bố anh); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông phúc đối với thửa đất 151-1 (theo bản đồ 299) hay thửa đất số 101 (Theo bản đồ địa chính năm 2016); hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (phần đất đang tranh chấp) cho ông T8; ông Đvà bà P4; ông T6và bà H9và các biên lai nộp thuế sử dụng đất của ông P3đối với thửa đất 152-1 như trên.

Hiện nay bà C2đã chết. Bà C2không có chồng và chỉ có một người con duy nhất là anh M. Anh Mxác định ngoài thửa đất hiện nay anh đang ở (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) là của bà C2và anh sinh sống từ năm 1987 đến nay thì bà C2không có thửa đất nào khác tại xã Pnữa. Bà C2cũng không có mua bán, chuyển nhượng nhà, đất nào với và T9hay bà T5cả. Anh cũng xác định bà C2không biết chữ.

Ông T10là công chức địa chính của UBND xã Pthời điểm 1993-1994 cũng xác định: Toàn bộ nội dung viết trong Biên bản giao đất, Biên bản kiểm tra tính đích thực về việc mua bán nhà đề ngày 18/10/1993, Quyết định số 458 ngày 10/11/1987 và Quyết định số 496 ngày 25/2/1994 của UBND huyện P; Tờ khai chuyển quyền sử dụng, sở hữu nhà đất nộp lệ phí trước bạ và các tài liệu bà T5nộp liên quan đến việc chuyển nhượng đất giữa bà C2và bà T9là do ông điền theo các mẫu in sẵn. Toàn bộ chữ viết, chữ ký “Cẩm”, “Nguyễn Thị C2”, “T9”, “Nguyễn Thị T13” thể hiện trong các văn bản trên là do ông tự viết, tự ký. Tại giấy chuyển nhượng đất thổ cư đề ngày 18/10/1993 có nội dung bà Nguyễn Thị C2chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị T1301 căn nhà và 90m2 đất thổ cư hoàn toàn là chữ ký, chữ viết của ông chứ bà C2không viết và không ký. Ông chưa bao giờ làm việc với bà C2, bà T13hay bà T5. Ông cũng không giao phần đất này trên thực địa.

Bà T5cũng xác định bà C2không biết chữ. Các chữ ký và chữ viết của bà C2trong các giấy tờ bà cung cấp cho Tòa đều không phải chữ ký và chữ viết của bà C2và của ai thì bà cũng không biết. Bà T13và bà T5đều xác định mọi chữ ký của bà T13trong các tài liệu, chứng cứ bà cung cấp cho Tòa để chứng minh việc mua bán, chuyển nhượng nhà và đất giữa và C2và bà T13đều không phải chữ ký bà T13. Bà T5xác nhận thời điểm mua nhà và đất của bà C2thì bà C2chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà. Bà C2chỉ có quyết định giao đất của Ủy ban nhân dân huyện.

Trong Quyết định số 596 ngày 25/02/1994 của UBND huyện Pvề việc chuyển giao đất có nhà chỉ hiện thu hồi của bà C2diện tích đất là 90m2 ở vị trí N, đội 4 để giao cho bà Trần Thị Tuyết .1Biên bản giao đất ngày 16/4/1994 của UBND xã Pcó chữ ký của ông Trần Minh C3, là chủ tịch xã thời điểm đó và có đóng dấu của UBND xã cũng chỉ thể hiện phần đất bà T13được giao một mặt nằm cánh hành lang giao thông 20m, tiếp giáp hành lang giao thông là đường quốc lộ 2 (hướng đi Phú Thọ - V); hai mặt giáp thổ cư của ông nào thì không thể hiện, một mặt nữa tiếp giáp gì thì cũng không thể hiện. Hiện nay, ông C3không nhớ việc giao đất này. Như vậy, không xác định được phần đất 90m2 như trong Quyết định và biên bản giao này là ở vị trí nào.

Trong biên bản kiểm tra tính đích thực về việc mua bán nhà ở ngày 18/12/1993 thể hiện việc mua bán giữa bà C2với ông L4(chồng bà T13) và bà T13thể hiện bà C2có bán nhà ở vị trí: Phía trước giáp: Quốc lộ B; phía sau giáp: đất vườn ông P3; phía tay trái giáp: Thổ cư ông B; phía tay phải giáp: Thổ cư ông P3; nhà được xây dựng trên đất diện tích 360m2 theo QĐ 458; tổng diện tích nhà 90m2... Bà T5và ông T10đều xác nhậntoàn bộ phần chữ viết trong nội dung của biên bản này là do ông T10(địa chính xã thời điểm đó) viết trên mẫu có sẵn. Phần bên mua và bên bán đều không phải bà C2, ông L4và bà T13ký (Điều này được anh M, bà T5, bà T13đều xác nhận và ông T10xác định đây là ông T10ký thay bà C2, bà T13và ông L4).

Trong hợp đồng mua bán nhà ở ngày 18/10/1993 giữa bà C2với ông L4và bà T13: ở phần ghi tháng lập hợp đồng đã bị sửa chữa nhưng không có ký xác nhận phần sửa chữa này. Bà T5, bà T13, anh M, ông T10xác nhận chữ ký bên mua bà bên bán đều không phải bà C2, bà T13, ông Lương k. Tuy nhiên, ngày 18/10/1993 Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ đã chứng nhận hợp đồng mua bán nhà ở có sự việc bà C2, bà T13, ông Lương kvào hợp đồng này là không đúng. Đồng thời, theo quy định tại Điều 32 Pháp lệnh nhà ở năm 1991 quy định “ Chỉ chủ sở hữu nhà ở mới có quyền bán nhà ở”. Trong lời khai của Ủy ban nhân dân xã Pvà huyện Pđều xác định Uỷ ban nhân dân không có lưu giữ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện bà C2được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở từ trước tới nay. Như vậy, hợp đồng mua bán nhà ở lập ngày 18/10/1993 giữa bà C2với ông L4và bà T13là trái quy định của pháp luật.

Về lời khai bà T5cho rằng bà C2bán phần diện tích đất đã được cấp theo quyết định giao đất số 455 ngày 10/11/1987 của Ủy ban nhân dân huyện Ptại vị trí khu vực Nmột phần diện tích cho ông Bvà một phần diện tích đất cho bà thì Tòa án đã lấy lời khai ông Bvề việc này. Tại lời khai của ông Bông khẳng định có giao dịch, ký các giấy tờ, thuế mua bán đất với bà C2. Nhưng ông không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh việc này. Trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất mà ông cho rằng là bà C2bán cho mìnhthể hiện nguồn gốc đất là nhà nước giao đất. Ông cũng khẳng định không chứng kiến việc mua bán đất, chuyển nhượng nhà, đất giữa bà C2với bà T13hay bà T5. Việc mua bán, chuyển nhượng này ông chỉ nghe nói, cụ thể chuyển nhượng ở đâu ông không biết.

Chi cục thuế khu vực L7– Phù Ninh không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì, do hiện nay Chi cục không còn lưu giữ hồ sơ liên quan đến tờ khai chuyển dịch quyền sử hữu, sử dụng nhà đất nộp lệ phí trước bạ đề ngày 18/12/1993; Biên lai thu lệ phí trước bạ ngày 22/12/1993 và không cung cấp địa chỉ của các ông bà có chữ ký trong các biên bản này, do các ông bà này đã nghỉ hưu.

Các ông bà công tác tại UBND huyện Pở tại thời điểm năm 1993, 1994 thì đã nghỉ hưu, không xác định được địa chỉ cụ thể nên hiện nay ủy ban không xác định được quyết định này giao vị trí đất ở đâu vì sao lại giao như vậy.

Tòa án xác minh thửa đất 152-1 có địa chỉ N, Núi Bằng L5hay Núi hốp đẩu: Qua xác minh được Ủy ban xã xác định Căn cứ vào bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2001 thì địa danh là Núi Bằng L5nhưng sổ địa chính lại ghi là Núi B1. Toàn bộ đất ở khu vực thửa đất số 152-1 có lịch sử hình thành là Hốp Đ1và Núi Bằng L5. Hiện nay không còn quản lý theo địa danh nữa. Đối với thửa đất 152-1 , năm 1987 ông P3có quyết định giao đất số 458 tên địa danh là H10đẩu nhưng trong sổ địa chính là Núi B1. Hai địa danh này là 1 vị trí trên thực địa.

Ủy ban nhân dân xã Pvà Ủy ban nhân dân huyện Pđều xác nhận thửa đất số 152-1, tờ bản đồ số 36 (theo bản đồ địa chính năm 1999) hay thửa 101, tờ bản đồ số 51 (theo bản đồ địa chính năm 2016), đã được UBND huyện Pcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S598087 ngày 26/12/2001 cho hộ ông Nguyễn Quang P3, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H01068. Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật.

- Về quá trình sử dụng thửa đất và đóng thuế đất:

Bà T5cho rằng sau khi mua đất bà là người quản lý phần diện tích đất 120m2 mà bà C2bán cho bà (Vị trí thửa đất là phần diện đất ông P3đã bán cho ông T8. Sau đó ông T8bán cho ông T6và bà H9. Hiện nay ông T6, bà H9đang xây quán).

Anh Scho rằng gia đình anh đã sử dụng thửa đất 152-1 từ năm 1976. Năm 2001 gia đình anh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này. Sáu đó, gia đình anh đã bán một phần phần diện tích đất thuộc thửa đất 152-1 cho ông T8. Ông T8được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất này và ông T8bán lại cho ông T6và bà H9. Hiện nay ông T6, bà H9đang xây quán.

Qua xác minh thể hiện sau khi ông P3được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 152-1 thì ông P3đã chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 152-1 cho ông T8. Sau đó ông T8chuyển nhượng lại cho ông T6, bà H9. Hiện nay ông T6, bà H9đã xây nhà để làm xưởng, quán trên phần đất này.

Ông T10, ông B1, anh Mđều xác định trước năm 1993 thì thửa đất số 152-1 do gia đình ông P3(bố anh S) quản lý, sử dụng. Sau năm 1993 thì gia đình ông P3tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất này. Sau đó năm 2003 ông P3có bán một phần quyền sử dụng thửa đất số 152-1. Nay anh S, bà H5đang là người quản lý, sử dụng phần còn lại của thửa đất 152-1. Gia đình anh Slà người đóng thuế đất từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay. Lời khai này phù hợp với lời khai của anh Svà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã xác minh, thu thập được.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy chưa đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T5nên cần bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T5là phù hợp.

Về án phí và chi phí tố tụng:

Về chi phí tố tụng:

- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000đ. Do bà T5bị bác yêu cầu khởi kiện nên bà T5phải chịu toàn bộ chi phí này. Xác nhận bà T5đã nộp đủ chi phí này.

- Về chi phí định giá tài sản: Anh Stự nguyện chịu toàn bộ chi phí định giá tài sản, anh không đề nghị bà T5phải trả lại chi phí này và đề nghị không xem xét ghi trong bản án này. Xác nhận anh Sđã nộp đủ chi phí này.

Về án phí: Đây là tranh chấp về xác định quyền sở hữu nên xác định đây là tranh chấp không có giá nghạch. Vì vậy án phí đối với vụ án này là 300.000đ. Bà T5bị bác yêu cầu khởi kiện nên bà T5phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bà T5là người cao tuổi và có đơn đề nghị được miễn tiền tạm ứng án phí, án phí nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà T5. Bà T5được miễn tiền tạm ứng án phí nên không xem xét giải quyết đối với tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 73, 79 Luật đất đai năm 1993; Điều 32 Pháp lệnh nhà ở năm 1991; Điều 5, Điều 188,khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Bácyêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T5.

Về án phí và về chi phí tố tụng:

Về chi phí tố tụng: Buộc bà Trần Thị T5phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng. Xác nhận bà Trần Thị T5đã nộp đủ chi phí này.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị T5.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.

Cỡ chữ