vanban.org

Bản án 77/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Yên Bái, tỉnh Yên Bái Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51BLHS. Xử phạt: Nguyễn Thanh T 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2023 (Ngày tạm giữ bị cáo). Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46; 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/HSST
Ngày: 26/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Oanh và ông Trần Thanh Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Hoàng Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2023/HSST ngày 07 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:

* Nguyễn Thanh T, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1982. Tại tỉnh Yên Bái. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 0x, phường N, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1957 (đã chết); con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956; Vợ: Trần Thị P (đã chết); Có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Ngày 25/4/2007, bị Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền;

+ Ngày 10/02/2009, bị Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/7/2023, tạm giam ngày 30/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái - Có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956. Trú tại: Tổ 0x, phường N, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Tuấn T, sinh năm 1976. Trú tại: Tổ 0x, phường Y, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 8h00 ngày 27/7/2023, trên đường Hoàng Hoa Thám, thuộc khu vực tổ 02, phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, tổ công tác của Công an thành phố Yên Bái, phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thanh T, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, quá trình bắt quả tang đã tạm giữ: 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng nghi chứa chất ma túy và 01 viên nén màu hồng, nghi là ma túy; 1.120.000 đồng; 01 ví giả da màu nâu; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu xanh đen; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh T và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, BKS 21F1-4694.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Thanh T là người nghiện chất ma túy, khoảng 7h45’ ngày 27/7/2023, Nguyễn Thanh T đi xe môtô Yamaha Sirius, BKS 21F1-4694, từ nhà đến khu vực phía sau chợ Ga Yên Bái, thuộc tổ dân phố Hồng Phú, phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái, để mua ma túy, T đã gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, mua 01 gói ma túy (Heroine) và 01 viên ma túy tổng hợp (Methamphetamine) với giá 600.000đồng, T cho số ma túy vừa mua được vào 01 túi nilon màu trắng và đi về nhà, đến khoảng 8h00 cùng ngày, khi T đi về trên đường Hoàng Hoa Thám, thuộc khu vực tổ 02, phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, thì bị bắt quả tang, thu giữ tang vật như nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số: 449/KL- KTHS ngày 03/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái, kết luận:

- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Thanh T có khối lượng là: 0,18 gam ( không phẩy mười tám gam), 0,08 gam trích từ 0,18 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

- Viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Thanh T có khối lượng là: 0,09 gam (không phẩy không chín gam), 0,09 gam viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 76/CT-VKSTP ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân T phố Yên Bái truy tố Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX:

- Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt: Nguyễn Thanh T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng các Điều 46; 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Thanh T nhận thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” do bản thân thực hiện là vi phạm pháp luật, không có tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa Nguyễn Thanh T thừa nhận: Do bản thân sử dụng ma túy, nên vào ngày 27/7/2023, T đã gặp và mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy (heroin) và 01 viên ma túy tổng hợp (Methamphetamine) với giá 600.000đồng. Sau khi mua được ma túy, T cầm ma túy đi về nhà, khi đi trên đường Hoàng Hoa Thám, thuộc khu vực tổ 02, phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái thì bị bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ của vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, như Bản kết luận giám định về ma túy, Bản kết luận điều tra, Cáo trạng... nên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy do Nguyễn Thanh T thực hiện đã đủ yếu tố cấu T tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Do bị cáo tàng trữ hai hai chất ma túy trở lên có tổng khối lượng là 0,27 gam (0,18 gam heroin và 0,09 gam methamphetamine), nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố bị cáo theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy:

Hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Đây cũng là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi của bản thân, nhưng lười lao động, không có nghề nghiệp, sử dụng ma túy. Vì vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, HĐXX có xem xét đến việc bị cáo T khẩn khai báo nên cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm, tài sản, thu nhập ổn định, gia đìn thuộc hộ cận nghèo, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang, T khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực phía sau chợ Ga Yên Bái, thuộc tổ dân phố Hồng Phú, phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Yên Bái không có cơ sở để điều tra, xác minh, làm rõ để xử lý trong vụ án này là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, đã qua sử dụng, gắn biển kiểm soát 21F1 - 4694, đây là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị N (mẹ đẻ của T), không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái đã trả lại cho bà Nga là phù hợp.

- Đối với khối lượng ma túy thu giữ khi bắt quả tang bị cáo là 0,27 gam (gồm 0,18 gam heroin và 0,09 gam methamphetamine), đối với 0,18 gam heroin đã sử dụng 0,08 gam vào việc giám định, số còn lại là 0,1 gam heroin được niêm phong trong một phong bì niêm phong vật chứng, đây là vật chứng bị cấm tàng trữ, lưu hành nên bị tịch thu, tiêu hủy. Đối với 0,09 gam methamphetamine, đã sử dụng hết vào việc giám định, nên việc xử lý không đặt ra.

- Đối với số tiền 1.120.000đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Itel, màu xanh - đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng, có số IMEL: 3540.830.905.21566, lắp sim có số thuê bao: 0978.061.756; 01 ví giả da màu nâu và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh T, là tài sản hợp pháp và giấy tờ tùy thân và của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên được trả lại cho bị cáo.

- Các vật chứng khác của vụ án, gồm: 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, 01 vỏ túi nilon và mảnh giấy bạc màu trắng, không có giá trị sử dụng, nên bị tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51BLHS. Xử phạt: Nguyễn Thanh T 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2023 (Ngày tạm giữ bị cáo).

3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46; 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bị cáo: Số tiền 1.120.000đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Itel, màu xanh-đen, loại bàn phím, đã qua sử dụng, có số IMEL: 3540.830.905.21566, lắp sim có số thuê bao: 0978.061.756; 01 ví giả da màu nâu; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh T.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,1 gam heroin được niêm phong trong phong bì, mặt trước ghi “Vật chứng do Nguyễn Thanh T tự giác giao nộp khi bắt quả tang ngày 27/7/2023 (sau khi trích mẫu giám định)”; 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, 01 vỏ túi nilon và mảnh giấy bạc màu trắng.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thanh T được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bán án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ