vanban.org

Bản án 77/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 22/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/HSST
Ngày: 22/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T-THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dương Hồng Tuấn Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Mai

2. Bà Lê Thị Thu Hạnh

-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Mai Hoa. -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường- Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 5 năm 2023 tại Phòng xử điểm cầu - Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2023/TLST-HS, ngày 20 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Đoàn Văn H - Sinh năm: 2000; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT: Xóm 6, xã Kim Trung, huyện K, tỉnh N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; T độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Đoàn Văn H1, sinh năm 1973; Họ và tên mẹ: Trần Thị D, sinh năm 1975: Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ hai; Theo danh chỉ bản số 83 lập ngày 13/01/2023 của Công an huyện T, TP Hà Nội về tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân bị cáo:

+ Tại Quyết định số 114, ngày 29/7/2017 Công an Thành phố T, tỉnh N xử phạt hành chính phạt tiền H 100.000 đồng về hành vi “Đánh Bạc” đến nay hết thời hiệu.

+ Tại Quyết định số 197 ngày 18/9/2018 Công an Thành phố T, tỉnh N xử phạt hành chính phạt cảnh cáo H về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đến nay hết thời hiệu.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam số I- Công an TP Hà Nội)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần bán ma túy trên mạng xã hội để kiếm lời nên ngày 07/01/2023, Đoàn Văn H sử dụng nick “H Tobaco” đăng tin trên trang Facebook “Tobaco hoả tốc Hà Nội” tìm người có nhu cầu mua ma tuý cỏ Tobaco. Đến chiều tối ngày 08/01/2023 có một người H không rõ nhân thân, lai lịch nhắn tin vào nick “H Tobaco” của H hỏi mua 500.000 đồng ma tuý cỏ Tobaco nhưng H chưa nhắn tin trả lời ngay.

KHOẢNg 21 giờ ngày 08/01/2023, H điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh, BKS: 35N1-3230 đến khu vực đối diện bến xe N tại đường N, phường H, quận H, Hà Nội gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 túi ma tuý cỏ Tobaco với giá 1.000.000 đồng. Mua xong, H mang số ma tuý trên về chỗ ở của H tại phòng số 1, nhà số 43 ngách 99/158/26 Đ, phường Đ, quận H, Hà Nội.

Đến Khoảng 23 giờ cùng ngày, H nhắn tin trả lời facebook người hỏi mua ma tuý cỏ Tobaco trước đó và bảo người này chuyển sang mạng Zalo để trao đổi. Khi chuyển sang Zalo thì H thấy tên hiện lên trên zalo người hỏi mua ma tuý cỏ Tobaco có tên là “Ngọc M”. Sau khi nhắn tin trao đổi Ngọc M bảo H mang ma tuý cỏ Tobaco xuống thị trấn V để giao cho Ngọc M. H đồng ý. H và Ngọc M thống nhất khi H mang ma tuý xuống thì Ngọc M sẽ kiểm tra số ma túy một mình rồi lấy và trả tiền. Sau đó, Ngọc M đã gửi định vị địa điểm cho H đi đến.

Sau khi thỏa thuận xong H lấy gói ma túy đã mua được trước đó chia 1/3 số ma tuý cỏ Tobaco cho vào trong 03 túi nilong để mang bán cho Ngọc M, số ma túy còn lại H chia ra thành 12 túi nilong để bán. (H dự định bán mỗi gói với giá 100.000 đồng. Nếu bán hết toàn bộ 15 gói ma túy đã chia H sẽ thu về cả gốc lẫn lãi tổng số tiền là 1.700.000 đồng, số tiền thu lời được sẽ là 700.000 đồng). Sau khi chia xong ma túy, H lấy 03 gói ma túy để bán cho Ngọc M cho vào túi quần bên phải phía trước của H đang mặc rồi điều khiển xe mô tô Honda Wave BKS: 35N1-3230 đi đến địa điểm mà Ngọc M đã hẹn để bán với giá 500.000 đồng. H sẽ kiếm lời được 200.000 đồng. Trước khi mang ma túy bán cho Ngọc M, H dùng nick Facebook “H Ma” của H nhắn tin vào nick “Trần T” của anh Trần Văn T, (sinh năm 2003, HKTT: Xóm 4, Đ, K, N) là bạn cùng quê với H để rủ T cùng đi bán ma túy nhưng T đã nhắn tin từ chối và ngăn cản H.

Hồi 23 giờ 30 ngày 08/01/2023, tổ Công tác Công an xã Đ – Công an huyện T làm nhiệm vụ tại khu vực ngõ 235 đường N, thị trấn V, T, Hà Nội phát hiện Đoàn Văn H đang đứng một mình ven đường bên cạnh chiếc xe môtô Honda Wave màu xanh, BKS 35N1- 3230 có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra. Quá T kiểm tra, tổ Công tác phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của H có 03 túi nilong chứa thảo mộc khô. Tại chỗ, H khai nhận số thảo mộc khô bên trong có 03 túi nilong trên là ma tuý cỏ Tobaco, H đang mang đi bán cho Ngọc M để kiếm lời nên tổ công tác đã tiến hành lập biên bản niêm phong thu giữ tang vật và đưa H cùng tang vật, phương tiện về trụ sở để làm việc. Ngoài ra, Công an còn tạm giữ của H 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu trắng đã qua sử dụng có số Imei: 353544564028801, Imei: 353914474028805 bên trong lắp sim số: 0328292955 và 0587267602.

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 09/01/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đoàn Văn H tại Phòng số 1, số nhà 43, ngách 99/158/26, ngõ 99 Đ, phường Đ, quận H, Hà Nội phát hiện và thu giữ tại trên bàn nhựa cạnh giường ngủ của H có 12 túi nilong bên trong đều chứa thảo mộc khô là ma túy cỏ Tobaco.

Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Đoàn Văn H thể hiện: Âm tính với ma túy.

Ngày 09/01/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 03 túi nilong ma túy đã thu giữ khi kiểm tra hành chính của Đoàn Văn H.

Tại bản Kết luận giám định số 424/KL-KTHS ngày 17/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: "Thảo mộc khô bên trong 03 túi nilông đều có ma túy loại ADB-BUTINACA, tổng khối lượng: 20,499 gam".

Cơ quan giám định đã sử dụng 5,141 gam ma túy loại ADB-BUTINACA trong tổng số 20,499 gam để làm mẫu giám định, còn lại 15,358 gam ma túy ADB-BUTINACA H trả cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện T.

Ngày 10/01/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 12 túi nilong ma túy đã thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Văn H.

Tại bản Kết luận giám định số 526/KL-KTHS ngày 19/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Thảo mộc khô bên trong 12 túi nilông đều có ma túy loại ADB-BUTINACA, tổng khối lượng: 21,424 gam”

Cơ quan giám định đã sử dụng 3,215 gam ma túy loại ADB-BUTINACA trong tổng số 21,424 gam để làm mẫu giám định, còn lại 18,209 gam ma túy ADB-BUTINACA H trả cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện T.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Hồi 23 giờ 30 phút ngày 08/01/2023, tại khu vực ngõ 235 đường N, thị trấn V, huyện T, Hà Nội khi Đoàn Văn H đang cất giữ trái phép ở túi quần phía trước bên phải 20,499 gam ma túy ADB-BUTINACA với mục đích để bán kiểm lời thì bị tổ Công tác Công an xã Đ – Công an huyện T kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ tang vật. Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Đoàn Văn H tại phòng số 1, số nhà 43, ngách 99/158/26, ngõ 99 Đ, phường Đ, quận H, Hà Nội, phát hiện thu giữ 21,424 gam ma túy ADB-BUTINACA. H thừa nhận cất giữ số ma túy trên bàn nhựa cạnh giường ngủ mục đích để bán kiếm lời.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận giữ nguyên nội dung bản cáo trạng số 63/CT-VKSTT ngày 19/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Đoàn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 BLTTHS 2015.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Văn H mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/01/2023

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định nên đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Cho tiêu hủy số 33,567 gam ma túy ADB-Butinaca còn lại sau trừ mẫu giám định.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu trắng đã qua sử dụng có số Imei: 353544564028801, Imei: 353914474028805 bên trong lắp 02 sim số: 0328292955 và 0587267602 thu giữ của Đoàn Văn H. Qua điều tra, xác định H đã sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H. Bị cáo khai không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện T không có căn cứ xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng có tài Khoản Zalo tên “Ngọc M” đã nhắn tin trao đổi mua ma túy của H, Cơ quan điều tra đã rà soát nhưng không có căn cứ để làm rõ.

Đối với anh Trần Văn T có sử dụng mạng xã hội Facebook với tên “Trần T”. Trước đó 01 tuần H có nhắn tin rủ T đi bán ma túy nhưng anh không đồng ý tham gia. Việc mua bán ma túy của H, anh không hề biết. Do T không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của H nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện T không xử lý.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu vàng bên trong có sim số: 0947815656, có số máy: MGLQ3LLIA và số seri: DNPFC43Y0D82 anh T tự nguyện giao nộp. Đây là tài sản hợp pháp của T dùng để liên lạc cá nhân không liên quan gì đến việc phạm tội của H nên ngày 03/4/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T. Anh T đã nhận lại và không có yêu cầu, thắc mắc gì.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh, BKS: 35N1 – 3230, số khung: RLHHC09083Y384323, số máy: HC09E - 0384458 tạm giữ của Đoàn Văn H. Qua xác minh chủ xe là anh Phạm Văn Đ. Năm 2020, anh Đ đã bán lại chiếc xe trên cho anh Đoàn Văn H2. Anh H2 đã trả tiền đầy đủ và nhận giấy tờ xe. Anh H2 là chú ruột của H, cho H mượn xe để đi làm, không biết H sử dụng vào việc phạm tội nên ngày 03/04/2023, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho anh H2. Anh H2 đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác.

Nói lời sau cùng các bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá T điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, T tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá T điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và quá T tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 23 giờ 30 phút ngày 08/01/2023, tại khu vực ngõ 235 đường N, thị trấn V, huyện T, Hà Nội khi H đang cất giữ trái phép ở túi quần phía trước bên phải 20,499 gam ma túy ADB-BUTINACA với mục đích để bán kiểm lời thì bị tổ Công tác Công an xã Đ – Công an huyện T kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ tang vật. Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của H phát hiện thu giữ 21,424 gam ma túy ADB-BUTINACA. H thừa nhận cất giữ số ma túy trên bàn nhựa cạnh giường ngủ mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bị cáo tàng trữ trái phép 41,92 gam ma túy ADB-Butinaca với mục đích bán kiếm lời. Trước đó bị cáo đã có tiền sự ngày 18/9/2018 bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đến nay đã hết thời hiệu xử lý. Ngoài ra, H còn đang bị khởi tố về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” theo kết luật điều tra số 98/KLĐT-CQQĐT ngày 10/5/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Đông Anh. Như vậy cho thấy, nhân thân bị cáo H là xấu, liên tiếp có các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm thường xuyên, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về xử lý vật chứng: Cho tiêu hủy số 33,567 gam ma túy ADB-Butinaca còn lại sau trừ mẫu giám định.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu trắng đã qua sử dụng có số Imei: 353544564028801, Imei: 353914474028805 bên trong lắp 02 sim số: 0328292955 và 0587267602 thu giữ của H. Qua điều tra, xác định H đã sử dụng vào việc phạm tội nên sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H. Bị cáo khai không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện T không có căn cứ xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng có tài Khoản zalo tên “Ngọc M” đã nhắn tin trao đổi mua ma túy của H” Cơ quan điều tra đã rà soát nhưng không có căn cứ để làm rõ.

Đối với anh Trần Văn T có sử dụng mạng xã hội Facebook với tên “Trần T”. Trước đó 01 tuần H có nhắn tin rủ T đi bán ma túy nhưng anh không đồng ý tham gia. Việc mua bán ma túy của H, anh không hề biết. Do T không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của H nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện T không xử lý là có căn cứ.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu vàng bên trong có sim số: 0947815656, có số máy: MGLQ3LLIA và số seri: DNPFC43Y0D82 anh T tự nguyện giao nộp. Đây là tài sản hợp pháp của T dùng để liên lạc cá nhân không liên quan gì đến việc phạm tội của H nên ngày 03/4/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T là có căn cứ.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh, BKS: 35N1 – 3230 tạm giữ của Đoàn Văn H. Qua xác minh là của Đoàn Văn H2. Anh H2 là chú ruột của H, cho H mượn xe để đi làm, không biết H sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho anh H2 là có căn cứ.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2023.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo

4. Về vật chứng: Cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong tại các mép có chữ ký của Đoàn Văn H, bên trong có số 15,358 gam ma túy ADB-Butinaca còn lại sau trừ mẫu giám định và 01 phong bì niêm phong tại các mép có chữ ký của Đoàn Văn H, bên trong có số 18,209 gam ma túy ADB-Butinaca còn lại sau trừ mẫu giám định.

Sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Samsung màu trắng đã qua sử dụng có số Imei: 353544564028801, Imei: 353914474028805 bên trong lắp 02 sim số: 0328292955 và 0587267602 (Không kiểm tra chất lượng bên trong)

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/05/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T)

5. Về án phí và Quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ