vanban.org

Bản án 77/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội Tuyên án 12/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L và Đào Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 10 (Mười) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù về tội: Tổ chức đánh bạc tại Bản án số 54/HSST ngày 30/6/2023 của TAND huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải chấp hành hình phạt chung là 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án về tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L và Đào Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚC THỌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/HSST;
Ngày 12 - 9 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Văn Học.

+ Ông Đặng Hữu Tình.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Anh Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Nguyên Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ – Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị L; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1977 tại: huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình; HKTT: Thôn 2, xã TH, huyện Phúc Thọ, Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Thôn 6, xã TH, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn K – sinh năm 1946 và bà: Đặng Thị T – sinh năm 1952; CH: Nguyễn Đức H– sinh năm 1977; Con: có 02 con (sinh năm 2000 và 2006).

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: - Ngày 14/01/2014, bị Công an xã TH xử phạt vi phạm hành chính về hành vi bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề.

- Bản án số 71/HSST ngày 30/12/2015 của TAND huyện Phúc Thọ xử phạt 09 tháng tù về tội: Đánh bạc. Chấp hành xong án phạt tù ngày 24/01/2017 (đã xóa án tích).

- Bản án số 54/HSST ngày 30/6/2023 của TAND huyện Phúc Thọ xử phạt 12 tháng tù về tội: Tổ chức đánh bạc (Chưa thi hành).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2023 đến nay tại Trại giam số 1, Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

2. Đào Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1997 tại: huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; HKTT: Thôn 8, xã TH, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đào Văn Đ, sinh năm 1970 và bà: Trần Thị Đ, sinh năm 1971; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1998; Có 02 con: Sinh năm 2016 và 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2023 đến 12/5/2023, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Đỗ Đình Sơn, sinh năm 1992 Địa chỉ: Thôn 8, xã TH, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/5/2023, Công an xã TH tuần tra, kiểm soát giao thông trên địa bàn, phát hiện Đào Văn T điều khiển xe máy Honda Airblade màu vàng đen, BKS: 29V-3229.50 chở Đỗ Đình Sơn (SN: 1992, trú tại thôn 8, TH, Phúc Thọ) ngồi phía sau, cả hai cùng không đội mũ bảo hiểm nên yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính và mời về trụ sở Công an xã làm việc. Nhận thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật nên Đào Văn T đã tự khai báo về hành vi đánh bạc, mua bán số lô, số đề với Nguyễn Thị L. Công an xã TH đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Phúc Thọ giải quyết theo thẩm quyền.

Căn cứ lời khai của Đào Văn T, Đỗ Đình Sơn, Cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Thị L đến làm việc, kết quả điều tra xác định như sau:

Nguyễn Thị L làm nghề bán sơn, bán thẻ cào nạp tiền điện thoại, dịch vụ chuyển tiền hộ người khác qua tài khoản để lấy tiền phí dịch vụ tại cửa hàng Đức Hạnh của gia đình mình, thấy có nhiều khách hàng nói chuyện mua bán số lô, số đề nên nảy sinh việc ghi bán số lô, đề. Khoảng tháng 4 năm 2023, L lập bảng ghi bán số lô, số đề, liên lạc qua mạng ứng dụng facebook “L Nguyen” và dùng các số điện thoại di động 0973590008, 0961322421 để nhắn tin, gọi điện bán số lô, đề cho người khác, dùng số tài khoản 19033393023011 mang tên Nguyen Thi L, mở tại Ngân hàng Techcombank và số tài khoản 8330115827005 mang tên Nguyen Thi L mở tại Ngân hàng MB để nhận tiền chơi lô, đề và thanh toán tiền thắng, thua với khách. L tự thanh toán không chuyển bảng lô đề cho ai.

Hình thức đánh bạc và quy ước tính tiền: Đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề, sử dụng kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc để tính thắng thua từng ngày, đánh ngày nào thì so với kết quả ngày đó. L bán cho khách các số lô với giá 22.500 đồng/điểm, nếu thắng thì được số tiền 80.000 đồng/điểm; Số đề mua với giá tùy ý, nếu thắng sẽ được gấp 84 lần tiền mua. Đối với lô xiên hai, ba, bốn thì đều có giá là 10.000 đồng/điểm, nếu trúng lô xiên 2 thì được gấp 10 lần, trúng lô xiên 3 thì được thưởng gấp 40 lần, trúng lô xiên 4 thì được thưởng gấp 100 lần. Lô B thì đối chiếu với kết quả 02 số cuối trong dãy 27 số giải thưởng; Lô A đối chiếu với kết quả 02 số đầu trong dãy 27 số giải thưởng của bảng kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày; Đề B đối chiếu với 02 số cuối của kết quả giải đặc biệt, đề A đối chiếu với 02 số đầu kết quả giải đặc biệt.

Quá trình giải quyết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phúc Thọ đã tạm giữ vật chứng, tài sản, gồm:

- 01 (một) điện thoại di động Samsung màu đỏ, số imei 354650841220951, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim điện thoại (tại thời điểm kiểm tra có số thuê bao 0984532590), do Đỗ Đình S giao nộp;

- 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xám, số imei 356648080851906, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim điện thoại (tại thời điểm kiểm tra có số thuê bao 0365234597), do Đào Văn T giao nộp;

- 01(một) điện thoại di động Iphone màu vàng, số imei 359172076000441, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim điện thoại (tại thời điểm kiểm tra có số thuê bao 0973590008), do Nguyễn Thị L giao nộp.

- 01(một) điện thoại di động Nokia màu xanh, đã qua sử dụng, số imei 357342081622040, không gắn sim, thu giữ trong quá trình Nguyễn Thị L chỉ dẫn hiện trường, xác định tại cửa hàng sơn Đức Hạnh. Đối với chiếc sim điện thoại có số thuê bao 0961322421, L khai đã vứt bỏ trên sân tầng 2 của cửa hàng sơn Đức Hạnh, quá trình rà soát, kiểm tra không thu giữ được.

Ngày 27/7/2023, Viện khoa học hình sự, Bộ Công an có Bản kết luận giám định số 4656/KL-KTHS, kết luận về đối tượng giám định và kèm theo 01(một) đĩa DVD-R bên trong lưu giữ nội dung dữ liệu điện tử đã phục hồi trong những chiếc điện thoại đã thu giữ.

Căn cứ bản sao kê in các tin nhắn mua bán lô đề trong điện thoại di động của các đối tượng, kết quả phục hồi dữ liệu điện tử và kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày xác định:

- Ngày 21/4/2023, Sơn dùng tài khoản facebook Đỗ Đình Sơn và số điện thoại 0984532590 để mua của L các số lô B: 45,54 mỗi con 25 điểm. Tổng số tiền 1.125.000 đồng tiền. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, thì không trúng số nào. Do vậy, số tiền đánh bạc của Sơn và L là 1.125.000 đồng (Một triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng)

- Ngày 26/4/2023, Sơn mua của L các số đề B: 12, 21, 89, 98, 28, 82, 76, 67 mỗi số giá 20.000 đồng, do được khuyến mãi 10%, nên tổng số tiền mua đề của Sơn là 145.000 đồng. Mua các số lô B: 12, 21, 67, 76 mỗi số giá 20 điểm, số lô B: 83 là 30 điểm, tổng tiền mua lô là 2.475.000 đồng. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, thì không trúng số nào. Do vậy, số tiền đánh bạc của Sơn và L là 2.620.000 đồng (Hai sáu trăm hai mươi nghìn đồng)

Cùng ngày 26/4/2023, Đào Văn T mua của L các số đề B: 32, 23, 96, 75, 82, 17 mỗi số giá 30.000 đồng, do được khuyến mãi 10%, nên số tiền mua đề của T là 160.000 đồng. T mua các số lô B: 78, 87, 96 mỗi số giá 30 điểm, các số lô B: 46, 64 mỗi số giá 20 điểm, số tiền mua số lô là 2.925.000 đồng. Tổng cộng số tiền mà T mua số lô, đề là 3.085.000 đồng. So sánh kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, thì T trúng số đề B: 75 giá 30.000 đồng được 2.100.000 đồng, số lô: 87 giá 30 điểm trúng được 2.400.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 4.500.000 đồng. Do vậy, số tiền đánh bạc của T và L là 7.585.000đồng (Bảy triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Ngày 26/4/2023 Tổng số tiền sử dụng đánh bạc của Sơn là: 2.620.000. Của T là 7.585.000đồng, của L là 10.205.000đồng.

- Ngày 06/5/2023, T mua của L các số đề B: 54, 45, 11, 63 mỗi số giá 30.000 đồng, do được khuyến mãi 10%, nên tổng số tiền mua số đề là 110.000 đồng. T mua số lô B: 63 giá 30 điểm, 36 giá 20 điểm, tổng 50 điểm lô là 1.125.000 đồng. Tổng cộng số tiền T mua số lô, số đề của L là 1.235.000 đồng. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, thì không trúng số nào. Do vậy, số tiền đánh bạc của T và L là 1.235.000 đồng (Một triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Vậy, tổng số tiền sử dụng đánh bạc trong tháng 4, 5 năm 2023 của Sơn là 3.745.000đồng (Ba triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), của T là: 8.820.000 đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng), của L là 12.565.000đồng (Mười hai năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng)

- Ngoài ra, vào ngày 21/4/2023, T nhắn tin mua số lô 17, 71 mỗi số với giá 25 điểm. T đã chuyển tiền cho L nhưng do quá giờ nên L không nhận bán số lô này nữa, L đã chuyển tiền trả lại cho T.

Quá trình đánh bạc, L, T, Sơn đã thanh toán tiền thắng thua với nhau xong từng lần, không nợ gì cả, L cầm bảng lô đề và không chuyển cho ai. Tổng số tiền mà L được hưởng lợi là 8.065.000 đồng.(Tám triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Vật chứng của vụ án: - 01 (một) điện thoại di động Samsung màu đỏ, số imei 354650841220951, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim điện thoại (tại thời điểm kiểm tra có số thuê bao 0984532590), do Đỗ Đình Sơn giao nộp;

- 01(một) điện thoại di động Iphone màu xám, số imei 356648080851906, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim điện thoại (tại thời điểm kiểm tra có số thuê bao 0365234597), do Đào Văn T giao nộp;

- 01(một) điện thoại di động Iphone màu vàng, số imei 359172076000441, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim điện thoại (tại thời điểm kiểm tra có số thuê bao 0973590008), do Nguyễn Thị L giao nộp.

- 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh, đã qua sử dụng, số imei 357342081622040, không gắn sim, thu giữ trong quá trình Nguyễn Thị L chỉ dẫn hiện trường, xác định tại cửa hàng sơn Đức Hạnh.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Phúc Thọ, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình.

*Tại Bản cáo trạng số 69/CT - VKS ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo về tội: "Đánh bạc" theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện VKS nhân dân huyện Phúc Thọ giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1, Điều 321; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 56 và Điều 38 Bộ luật hình sự,

Xử phạt bị cáo L từ 10 - 15 tháng tù, tổng hợp với Bản án số 54/HSST ngày 30/6/2023 của TAND huyện Phúc Thọ xử phạt 12 tháng tù về tội: Tổ chức đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Áp dụng: Khoản 1, Điều 321; Điểm i, s, r Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo T từ 09 – 12 tháng cải tạo không giam giữ và khấu trừ 1 phần thu nhập của bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

*Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

+ Tịch thu phát mại sung Ngân sách Nhà nước 03 chiếc điện thoại gồm:

- 01 (một) điện thoại di động Samsung màu đỏ, số imei 354650841220951, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim điện thoại (tại thời điểm kiểm tra có số thuê bao 0984532590), do Đỗ Đình Sơn giao nộp;

- 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xám, số imei 356648080851906, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim điện thoại (tại thời điểm kiểm tra có số thuê bao 0365234597), do Đào Văn T giao nộp;

- 01(một) điện thoại di động Iphone màu vàng, số imei 359172076000441, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim điện thoại (tại thời điểm kiểm tra có số thuê bao 0973590008), do Nguyễn Thị L giao nộp.

Trả lại cho bị cáo L 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh, đã qua sử dụng, số imei 357342081622040, không gắn sim, thu giữ trong quá trình Nguyễn Thị L chỉ dẫn hiện trường do không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Buộc bị cáo L nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 3.565.000đ (Ba triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

- Buộc bị cáo T nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Trong khoảng thời gian tháng 4-5/2023, Nguyễn Thị L đã lập bảng lô, để đánh bạc với nhiều người, trong đó có Đào Văn T và Đỗ Đình Sơn, cụ thể:

- Ngày 26/4/2023, Sơn mua số lô, số đề của L với tổng tiền 2.620.000đồng, kết quả đối chiếu không trúng thưởng số nào. Do vậy, số tiền đánh bạc của Sơn và L là 2.620.000đồng.

- Ngày 26/4/2023, Đào Văn T mua số lô, số đề của L với tổng số tiền là 3.085.000đồng, kết quả đối chiếu T trúng số đề B: 75 giá 30.000 đồng được 2.100.000 đồng, số lô: 87 giá 30 điểm trúng được 2.400.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng 4.500.000 đồng. Do vậy, số tiền đánh bạc của T và L là 7.585.000.000đồng

=> Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc của L là 10.205.000 đồng ( Mười triệu hai trăm linh năm nghìn đồng). Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc của T là 7.585.000 đồng. (Bảy triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn).

Ngoài hành vi cấu thành tội đánh bạc của L và T ngày 26/4/2023 như trên, thì L, T, Sơn còn có hành vi đánh bạc nhưng không cấu thành tội phạm cụ thể các ngày:

- Ngày 21/4/2023, Sơn mua số lô, số đề của L với tổng số tiền 1.125.000 đồng, kết quả đối chiếu không trúng thưởng số nào. Do vậy, số tiền đánh bạc của Sơn và L là 1.125.000 đồng. (Một triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng)

- Ngày 06/5/2023, T mua số lô, số đề của L với tổng số tiền là 1.235.000đồng, kết quả đối chiếu không trúng thưởng số nào. Do vậy, số tiền đánh bạc của T và L là 1.235.000đồng. (Một triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng)

Vì vậy hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh, được thực hiện với lỗi cố ý. Bản thân các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

. Tại phiên toà các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo L và T đã cấu thành tội “Đánh bạc" theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tinh̀ tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội giản đơn; Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi hành vi phạm tội bị phát giác, các bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra nhanh chóng làm sáng rõ các tình tiết trong vụ án, giúp cơ quan điều tra nhanh chóng kết thúc vụ án; bị cáo T thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở địa phương; hiện có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; bị cáo L có gia đình cH là người có công với cách mạng, bố mẹ cH được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy,

Bị cáo L nhiều lần bị xét xử về tội phạm cùng loại nhưng không thực hiện sửa chữa mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để giáo dục cải tạo bị cáo.

Đối với bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ; trước khi hành vi bị phát hiện, bị cáo đã tự thú; bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, giúp cơ quan điều tra kết thúc nhanh chóng vụ án; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và việc cho bị cáo được tự cải tạo ngoài môi trường xã hội không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo L và cho bị cáo T được cải tạo ngoài xã hội là có căn cứ. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn và Điều 36 của Bộ luật hình sự cho bị cáo T được tự cải tạo ngoài môi trường xã hội là phù hợp.

. Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn đi ̣nh nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.

. Đối với Đỗ Đình Sơn đã có hành vi mua các số lô, số đề ngày 21/4/2023 và 26/4/2023 của Nguyễn Thị L nhưng số tiền sử dụng để đánh bạc dưới 5.000.000đồng. Bản thân, Sơn chưa có tiền án, tiền sự gì về tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này. Do đó, Công an huyện Phúc Thọ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đỗ Đình Sơn là có căn cứ.

. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

+ Tịch thu phát mại sung Ngân sách Nhà nước 03 chiếc điện thoại gồm:

- 01 (một) điện thoại di động Samsung màu đỏ, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim.

- 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xám, đã qua sử dụng.

- 01(một) điện thoại di động Iphone màu vàng, đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho bị cáo L 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh, đã qua sử dụng, do không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Buộc bị cáo L nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 3.565.000đ (Ba triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

- Buộc bị cáo T nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng).

.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L và Đào Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ Khoản 1, Điều 321; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56 và Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 10 (Mười) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù về tội: Tổ chức đánh bạc tại Bản án số 54/HSST ngày 30/6/2023 của TAND huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải chấp hành hình phạt chung là 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/11/2022 đến ngày 26/11/2022 (Theo Bản án số 54/HSST ngày 30/6/2023 của TAND huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội). Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2023.

Căn cứ Khoản 1, Điều 321; Điểm i, s, r Khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Đào Văn T 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời giam tạm giữ từ ngày 07/5/2023 đến 12/5/2023: 6 ngày x 3 = 18 ngày. Thời hạn cải tạo không giam giữ còn phải chấp hành là 09 tháng – 18 ngày = 08 (Tám) tháng 12 (Mười hai) ngày tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự công an huyện Phúc Thọ nhận được quyết định thi hành án và Bản án.

*Giao bị cáo Đào Văn T về Uỷ ban nhân dân xã TH, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trong thời gian cải tạo không giam giữ, khấu trừ 1 phần thu nhập của bị cáo T là 300.000đ x 09 tháng = 2.700.000đ (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng).

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

+ Tịch thu phát mại sung Ngân sách Nhà nước 03 chiếc điện thoại gồm:

- 01 (một) điện thoại di động Samsung màu đỏ, số imei 354650841220951, đã qua sử dụng, có nhiều vết nứt vỡ màn hình, có gắn 01 sim.

- 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xám, số imei 356648080851906, đã qua sử dụng, có gắn 01 sim.

- 01(một) điện thoại di động Iphone màu vàng, không khởi động được, tại mặt sau có ghi Model: A1784, có gắn 01 sim.

+ Trả lại cho bị cáo L 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh, đã qua sử dụng, số imei 357342081622040, không gắn sim.

- Buộc bị cáo L nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 3.565.000đ (Ba triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

- Buộc bị cáo T nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng).

(Các vật chứng hiện đang bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2023 giữa Công an huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội).

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Nguyễn Thị L và Đào Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ