- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức Khuê - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ pháp luật, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2023/HS-ST Ngày 18-10-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tô Thị Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tuấn Anh và bà Phạm Thị Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Đức Khuê, sinh ngày 26 tháng 01 năm 1991 tại huyện T, thành phố Hải Phòng. Nơi thường trú: thôn C, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở khi bị bắt: thôn N2, xã Thượng Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nguyên là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (đã bị khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định số 79-QĐ/UBKT ngày 18/9/2023 của UBKT Huyện ủy Thủy Nguyên); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức K và bà Lê Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 22/7/2023, bị tạm giữ từ ngày 22/7/2023; bị tạm giam từ ngày 31/7/2023 (hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí), có mặt.
- Người làm chứng: Ông Lưu Ngọc T, ông Trần Văn L, anh Vũ Văn Do, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 22/7/2023, tại trước cửa nhà hàng Thái Huyền, thuộc thôn Năm Mẫu 2, xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác của Công an thành phố Uông Bí trong khi làm nhiệm vụ đã bắt quả tang Lê Đức K đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng. Thu giữ tại túi quần bên trái K đang mặc, 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. K khai đây là ma tuý “đá” mua của một người không quen biết ở thành phố Hải Phòng, mang về để sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của K 01 điện thoại di động Iphone gắn sim số 0858.637.785 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 14Y1-298.86.
Tại Bản kết luận giám định số 1085/KL-KTHS ngày 28/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma tuý loại Methamphetmine, khối lượng 0,162 gam.
Về nguồn gốc ma túy, Lê Đức K khai: do K đang làm thuê tại nhà hàng Thái Huyền thuộc thôn Năm Mẫu 2, xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí. Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 22/7/2023, K đang ở nhà hàng thì nảy sinh ý định mua ma tuý dạng đá về để sử dụng. K mượn xe mô tô Yamaha Sirius BKS 14Y-298.86 của một người bạn tên D, rồi điều khiển xe mô tô sang khu vực chợ Tổng, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, nhờ một người làm nghề xe ôm mua giúp 500.000 đồng tiền ma tuý dạng đá. Sau khi mua được ma tuý, K cất giấu ở tuý quần phía trước bên trái mình đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về chỗ làm của mình. Khi vừa đi đến trước cửa nhà hàng Thái Huyền thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định.
Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSUB ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố bị cáo Lê Đức K về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm: vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
+ Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức K từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 22 tháng 7 năm 2023).
+ Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định.
+ Trả lại cho bị cáo Lê Đức K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim 0858637785.
Bị cáo Lê Đức K không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đánh giá về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đánh giá về tội danh của bị cáo:
Xét thấy: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh lập vào hồi 22 giờ 50 phút ngày 22 tháng 7 năm 2023; phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 1085/KL-KTHS ngày 28/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật gửi giám định là ma tuý loại Methamphetmine, khối lượng 0,162g (không phẩy một sáu hai gam).
(Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, STT: 247; Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 22 giờ 40 phút ngày 22/7/2023, tại trước cửa nhà hàng Thái Huyền thuộc thôn Năm Mẫu 2, xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, Lê Đức K bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,162g (không phẩy một sáu hai gam) ma tuý loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.
Bị cáo Lê Đức K là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng ý thức chấp hành pháp luật kém; bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện để nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân. Hành vi của bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý và các chất gây nghiện, làm mất trật tự, an toàn xã hội. Chất ma tuý gây nguy hại đến sức khoẻ con người, ma túy cũng là mầm mống phát sinh các loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, tạo nên nhiều bức xúc trong quần chúng nhân dân. Trong những năm qua Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị, xã hội đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đấu tranh, ngăn chặn đối với các tội phạm về ma tuý; nhiều cuộc vận động, tuyên truyền về tác hại của ma tuý đã được tổ chức; rất nhiều tội phạm về ma tuý đã bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, do vậy cần phải bị xử lý thật nghiêm trước pháp luật. Hành vi của bị cáo Lê Đức K đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 78/CT-VKSUB ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.
Đánh giá về hình phạt:
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Lê Đức Khuê không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được sai phạm nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý trong giai đoạn hiện nay.
Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung, tuy nhiên xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đánh giá về vật chứng và xử lý vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, xét thấy là vật có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim 0858637785 thu giữ của bị cáo Lê Đức K. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo K.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 14Y1-298.86, quá trình điều tra làm rõ là xe mô tô của anh Vũ Văn D cho K mượn. Anh D không biết K sử dụng xe mô tô của mình để đi mua ma tuý nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh D; anh D đã nhận lại xe và không có ý kiến hay đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đánh giá về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với người đàn ông mua ma tuý cho K tại thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra không làm rõ được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Đánh giá về án phí: bị cáo Lê Đức K là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đánh giá về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ pháp luật, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố: bị cáo Lê Đức K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: bị cáo Lê Đức K 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 22 tháng 7 năm 2023).
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1085/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh.
- Trả lại cho bị cáo Lê Đức K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám, bên trong lắp sim số 0858.637.785.
(tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí).
3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Lê Đức K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Đảng bộ xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên. THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Viện KSND thành phố Uông Bí; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.Uông Bí; - Cơ quan THAHS Công an TP. Uông Bí; - Nhà tạm giữ Công an TP. Uông Bí; - Chi cục THADS TP. Uông Bí; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Lưu: HS, VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Tô Thị Thịnh THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Tô Thị Thịnh |