vanban.org

Bản án 77/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 23/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý tài sản, vật chứng: căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong đựng trong phong bì thư và toàn bộ vỏ bao bì còn lại của mẫu QT có dấu niêm phong số 239/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng do liên quan đến hành vi phạm tội. Tịch thu tiêu hủy 01 dao lam và 05 vỏ bao th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giang Văn Thanh mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý tài sản, vật chứng: căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/HS-ST
Ngày 23-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Hữu Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Toàn;

Ông Đinh Quốc Hoàng.

- Thư ký phiên toà: bà Đỗ Thị Tình - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: bà Trần Thị Ngọc Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Giang Văn Th, sinh ngày 23 tháng 3 năm 1969 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: số 01/3, phường S, quận HB, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: số 35/810, phường S, quận HB, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giang Văn C và bà Nguyễn Thị Ph (đều đã chết); có vợ là Phạm Ngọc D (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 379/HSST ngày 11/8/1999 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 11 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 31/2013/HSST ngày 16/8/2013 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù ngày 25/9/2020); tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 170/2008/HSST ngày 21/8/2008 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 45 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08-3-2023 đến ngày 14-3-2023 chuyển tạm giam - Có mặt.

- Người chứng kiến: ông Hoàng Văn T - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma tuý, không có việc làm ổn định nên khoảng 09 giờ ngày 08-3-2023, Giang Văn Th đi một mình tới khu vực bờ đê Cái Tắt, xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tìm mua ma tuý về bán lại kiếm lợi. Tại đây, Th gọi điện thoại cho 01 người phụ nữ tên Hằng có số điện thoại 0867.469.223 hỏi mua số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng ma tuý Heroine. Hằng hẹn Th ra bờ đê Cái Tắt, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng nhận tiền và đưa cho Th 02 (hai) gói giấy màu trắng, bên trong chứa ma tuý Heroine. Th mang 02 gói ma túy Heroine vừa mua được về nhà tại số 35/810, phường S, quận HB rồi chia đều số ma túy trên ra thành 04 phần, gói ma túy bằng giấy màu vàng sau đó bọc ngoài bằng giấy màu trắng để bán lại kiếm lợi. Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, Th nhận được cuộc điện thoại của một người đàn ông (không quen biết) từ số điện thoại 0878.803.499 hỏi mua 05 gói ma túy. Th báo cho người này với giá 200.000 (hai trăm nghìn) đồng/01 gói nhưng hiện chỉ có 04 gói. Người đàn ông trên đồng ý mua nên Th hẹn ra đầu ngõ 810 Tôn Đức Thắng, phường Sở Dầu để giao dịch. Th cầm 04 gói ma tuý trên cho vào túi nilon rồi cất vào trong túi quần phía trước bên phải của Th, rồi đi bộ đến trước số nhà 28/810 Tôn Đức Thắng, phường Sở Dầu đợi giao ma tuý cho người mua. Khi vừa tới nơi, Th bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt giữ. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải Th đang mặc 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 04 gói giấy màu trắng, trong mỗi gói giấy có chất bột dạng cục màu trắng nghi là ma tuý. Tiến hành xét nghiệm nhanh nước tiểu, Giang Văn Th dương tính với ma túy Heroin. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Giang Văn Th tại số 35/810, phường S thu giữ: 01 dao lam và 05 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long.

Tại bản Kết luận giám định số 239/KL-KTHS(MT) ngày 13-3-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:“Chất bột gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,40 gam, loại Heroine”.

Tại Cơ quan điều tra, Giang Văn Th khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định chất ma túy, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Về tài sản, vật chứng: Lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong đựng trong phong bì thư và toàn bộ vỏ bao bì còn lại có dấu niêm phong số 239/MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu NOKIA đã qua sử dụng; 01 dao lam và 05 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng để giải quyết theo vụ án.

Tại Cáo trạng số 80/CT-VKSHB ngày 02-8-2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố Giang Văn Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Giang Văn Th nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng. Bị cáo Giang Văn Th thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Giang Văn Th từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08-3-2023. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý tài sản, vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong đựng trong phong bì thư và toàn bộ vỏ bao bì còn lại của mẫu QT có dấu niêm phong số 239/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng do liên quan đến hành vi phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy 01 dao lam do liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với 05 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo không nhận lại và xác định không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Imei: 353120110129110 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo do liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ tên Hằng, số điện thoại 0867.469.223 đã bán ma túy cho Th, tài liệu điều tra xác định chủ thuê bao số điện thoại trên là anh Lê Xuân Việt, sinh năm: 1978, nơi cư trú: thôn Hạ, xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Kết quả xác minh thể hiện Lê Xuân Việt vắng mặt tại địa phương, không rõ đang ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với người đàn ông gọi điện thoại số 0878.803.499 để mua ma túy của Th, qua xác minh xác định chủ thuê bao số điện thoại trên là Ngô Hoàng Trúc Nhi, sinh năm: 2004, nơi cư trú: số 185/69 Bà Hom, Phường 13, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã uỷ thác điều tra tới Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh chủ thuê bao. Kết quả thể hiện Ngô Hoàng Trúc Nhi không đăng ký số thuê bao 0878.803.499, không sử dụng, cũng không cho ai mượn căn cước để đăng kí số thuê bao trên. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: tại phiên tòa, người chứng kiến là ông Hoàng Văn T vắng mặt. Xét thấy, người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do; tại phiên tòa, bị cáo, Kiểm sát viên đều đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người chứng kiến do trước đó người chứng kiến đã có lời khai tại cơ quan điều tra. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đối người chứng kiến.

- Về nhận định các tình tiết của vụ án:

Về tội danh: lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được, lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: khoảng 12 giờ 20 phút ngày 08-3-2023, Giang Văn Th nhận được cuộc điện thoại của một người đàn ông (không quen biết) từ số điện thoại 0878.803.499 hỏi mua 05 gói ma túy. Th báo cho người này với giá 200.000 (hai trăm nghìn) đồng/01 gói nhưng hiện chỉ có 04 gói. Người đàn ông trên đồng ý mua nên Th hẹn ra đầu ngõ 810 Tôn Đức Thắng, phường Sở Dầu để giao dịch. Th cầm 04 gói ma tuý trên cho vào túi nilon rồi cất vào trong túi quần phía trước bên phải của Th, rồi đi bộ đến trước số nhà 28/810 Tôn Đức Thắng, phường Sở Dầu đợi giao ma tuý cho người mua. Khi vừa tới nơi, Th bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt giữ. Bị cáo khai nhận là ma túy loại Heroine, mục đích mua ma túy về để bán kiếm lợi. Tại Kết luận giám định số 239/KL-KTHS(MT) ngày 13-3-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:“Chất bột gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,40 gam, loại Heroine”. Hành vi nêu trên của Giang Văn Th đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: bị cáo có hành vi mua bán trái phép 0,40 gam ma túy loại Heroine. Bản thân bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích như phần căn cước đã nêu, trong đó tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 31/2013/HSST ngày 16/8/2013 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đã xác định bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “tái phạm nguy hiểm” nên lần phạm tội này, bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tính chất vụ án rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm Luật Phòng, chống ma túy ngày 30-3-2021, mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội. Đây là tệ nạn xã hội gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân nên phải xem xét, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

- Về hình phạt:

Về hình phạt chính: trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, mục đích của hình phạt, nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo có nhiều tiền án và có nhân thân không tốt như phần căn cước đã nêu, các bản án đã xét xử bị cáo đều liên quan đến ma túy. Điều đó thể hiện bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thích hợp mới đảm bảo quy định của pháp luật nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục họ có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, căn cứ nguyên tắc xử lý của pháp luật hình sự cần khoan hồng đối với người thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội. Do vậy, áp dụng hình phạt như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Bị cáo tại thời điểm thực hiện hành vi chưa nhận tiền và chưa thu lợi bất chính. Mặt khác, bị cáo không có việc làm ổn định, không có căn cứ xác định có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở.

Về xử lý tài sản, vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong đựng trong phong bì thư và toàn bộ vỏ bao bì còn lại của mẫu QT có dấu niêm phong số 239/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng do liên quan đến hành vi phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy 01 dao lam do liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với 05 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo không nhận lại và xác định không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Imei: 353120110129110 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo do liên quan đến hành vi phạm tội.

Về các vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ tên Hằng, số điện thoại 0867.469.223 đã bán ma túy cho Th, tài liệu điều tra xác định chủ thuê bao số điện thoại trên là anh Lê Xuân Việt, sinh năm: 1978, nơi cư trú: thôn Hạ, xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Kết quả xác minh thể hiện Lê Xuân Việt vắng mặt tại địa phương, không rõ đang ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

Đối với người đàn ông gọi điện thoại số 0878.803.499 để mua ma túy của Th, qua xác minh xác định chủ thuê bao số điện thoại trên là Ngô Hoàng Trúc Nhi, sinh năm: 2004, nơi cư trú: số 185/69 Bà Hom, Phường 13, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã uỷ thác điều tra tới Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh chủ thuê bao. Kết quả thể hiện Ngô Hoàng Trúc Nhi không đăng ký số thuê bao 0878.803.499, không sử dụng, cũng không cho ai mượn căn cước để đăng kí số thuê bao trên. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Giang Văn Th 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08-3-2023.

- Về xử lý tài sản, vật chứng: căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong đựng trong phong bì thư và toàn bộ vỏ bao bì còn lại của mẫu QT có dấu niêm phong số 239/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng do liên quan đến hành vi phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy 01 dao lam và 05 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Imei: 353120110129110 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo do liên quan đến hành vi phạm tội.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 02-8-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng).

- Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc Giang Văn Th phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ