vanban.org

Bản án 77/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai Tuyên án 29/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Vương Văn C, Vương Văn Q phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 6,51 gam Heroine cùng toàn bộ niêm phong cũ đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Văn C và ĐP - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vương Văn C, Vương Văn Q phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN VĂN BÀN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/HS-ST
Ngày 29/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI.

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Vĩnh Thái.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đàm Sông Hương.

2. Bà Vũ Thị Vẻ.

Thư ký phiên toà: Ông Tráng Kháy Phìn - Thư ký toà án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Long - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2023/ TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Vương Văn C, sinh ngày 05/11/1987, tại huyện V, tỉnh L.

Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh L.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 04/12.

Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Vương Tiến H, sinh năm 1943; con bà: Thể Thị T, sinh năm 1952.

Vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1987; Bị cáo có 02 con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2009. Hiện đều trú tại: Xã C, huyện V, tỉnh L.

Tiền án: 01 tiền án ngày 12/5/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 24/9/2022 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2023 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa.

2. Vương Văn Q - Sinh ngày 20/8/1992, tại huyện V, tỉnh L.

Nơi thường trú: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh L.

Nơi ở trước khi bị bắt: thôn K, xã C, huyện V, L.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12.

Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Vương Văn S, sinh năm 1965; con bà: Lục Thị H, sinh năm 1965. Hiện đều trú tại: Xã C, huyện V, tỉnh L.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 100/2014/HS-ST ngày 02/7/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, Vương Văn Q đã bị xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 16/02/2016 chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích.

- Người bào chữa cho bị cáo Vương Văn C: Bà Liệu Thị T, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L – Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Vương Văn Q: Bà Lương Thị C, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L – Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh L - Có mặt.

Người chứng kiến: Ông Hà Anh T, sinh năm 1982 – Vắng mặt.

Nơi cư trú:Tổ dân phố số x, thị trấn K, huyện V, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 18/9/2023, Vương Văn C đang ở nhà tại thôn K, xã C thì Vương Văn Q đến chơi. Chài nảy sinh ý định đi đến thị xã S tìm mua ma tuý mang về sử dụng và nếu có ai hỏi mua thì bán nên đã nhờ Q điều khiển xe máy chở đi mua ma tuý và hứa sau khi mua được ma tuý sẽ cho Q 01 gói ma tuý để sử dụng, Q đồng ý. C lấy xe mô tô 24V1 - 244.xx của vợ đưa cho Q điều khiển chở C đi đến thị xã S. Đến khoảng 12 giờ, Q điều khiển xe chở C đến khu vực xã B, thị xã S thì C bảo Q đứng ở ven đường chờ còn C một mình điều khiển xe mô tô đi tìm mua ma tuý. Khi C đang đi trên đường ở xã B thì gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông cao khoảng 1m55, dáng người trung bình khoảng 40 tuổi, C hỏi người này có ma tuý bán không, người này trả lời có. C đưa cho người này 5.200.000 đồng, người này đưa lại cho C 01 gói nilon màu đen bên trong có 02 gói nilon màu xanh chứa ma tuý dạng cục màu trắng. C cất gói ma tuý vào túi quần bên trái rồi quay lại gặp Q nói “mua được rồi, đi về thôi” và đưa xe cho Q điều khiển chở C về. Đến 14 giờ 50 phút, Q chở C đến Km 106 + 450 QL279 thuộc địa phận thôn V, xã K, huyện V thì bị tổ công tác của Công an huyện Văn Bàn phát hiện bắt quả tang thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ của C 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 24V1- 244.xx cùng giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị L, 01 căn cước công dân mang tên Vương Văn C. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Q và C nhưng không phát hiện, thu giữ gì thêm.

Tại bản kết luận giám định số: 327/KL-GĐMT ngày 21/9/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: Tổng số chất bột khô màu trắng, dạng cục thu giữ của Vương Văn C có khối lượng 6,88 gam là chất ma túy Heroine.

*Tại bản Cáo trạng số: 76/CT-VKS ngày 20/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, quyết định truy tố các bị cáo Vương Văn C, Vương Văn Q ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vương Văn C, Vương Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy.”

* Về hình phạt:

- Hình phạt chính: + Đề nghị áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vương Văn C từ 08 năm tù đến 09 năm tù.

+ Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vương Văn Q từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không.

* Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 6,51 gam Heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ do không còn giá trị sử dụng.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị L là chủ sở hữu hợp pháp 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 24V1 - 244.xx cùng giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị L.

* Tại phiên tòa người bào chữa cho các bị cáo nhất trí về tội danh và điều luật như đại diện Viện kiểm sát luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

- Xử phạt bị cáo Vương Văn C từ 07 năm 06 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo; miễn án phí cho bị cáo. Vì bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo, là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Nghề nghiệp tự do, không có tài sản riêng gì.

- Xử phạt bị cáo Vương Văn Q 07 năm tù đến 07 năm 03 tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo; miễn án phí cho bị cáo. Vì bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Nghề nghiệp tự do, không có tài sản riêng gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo bị truy tố:

Khoảng 08 giờ ngày 18/9/2023, đều là các đối tượng nghiện ma túy nên khi Vương Văn Q đến nhà Vương Văn C chơi, C đã nẩy sinh ý định đi lên thị xã S mua ma túy về để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Nên C nhờ Q dùng xe máy chở mình đi mua ma túy và hứa mua được ma túy sẽ cho Q 01 gói. C lấy xe mô tô BKS 24V1 - 244.xx của vợ là Nguyễn Thị L đưa cho Q điều khiển chở C. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe chở C đến khu vực xã B, thị xã S thì dừng lại. Q đứng ở ven đường chờ còn C một mình điều khiển xe mô tô đi trên đường ở xã B thì gặp và mua của một người dân tộc Mông 01 gói Heroine, gói ngoài bằng nilon mầu đen có khối lượng 6,88 gam với giá 5.200.000đ. Mua được ma túy C cất giấu vào túi quần bên trái rồi quay lại gặp Q nói đã mua được ma túy và đưa xe cho Q để chở mình về. Khoảng 14h50” khi cả hai đi đến địa phận thôn V, xã K, huyện V thì bị tổ công tác của Công an huyện Văn Bàn phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy vừa mua. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 24V1 - 244.xx cùng giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị L, 01 căn cước công dân mang tên Vương Văn C.

Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định 18/9/2023, bị cáo Vương Văn Q đã dùng mô tô chở bị cáo Vương Văn C đi mua 6,88g Heroine với giá 5.200.000đ để sử dụng và bán kiếm lời hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Đây là vụ án có đồng phạm, vai trò của các bị cáo như sau: Bị cáo Vương Văn C là người khởi xướng, bỏ tiền mua, tàng trữ ma tuý trên người để bán và sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính với vai trò là người thực hành. Bị cáo Vương Văn Q điều khiển xe mô tô chở bị cáo C đi mua ma tuý do được C hứa hẹn trả công bằng ma tuý nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đồng phạm với vai trò người giúp sức.

Hội đồng đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo hiểu rõ ma túy là loại độc dược nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Là người khỏe mạnh, đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng các bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, đua đòi dẫn đến nghiện ma túy. Ngoài ra ngày 02/7/2014 bị cáo Q đã bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 16/02/2016 chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích. Nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Nên xét cần có một hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Vương Văn C mặc dù gia đình thuộc diện hộ cận nghèo của địa phương nhưng dùng số tiền lớn để mua ma túy nên cần phạt bổ sung một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vương Văn Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo Vương Văn C có 01 tiền án ngày 12/5/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 24/9/2022 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Vương Văn C, Vương Văn Q trong quá trình điều tra truy tố và xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo C có bố đẻ có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo Q có Ông nội có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Gia đình bị cáo C thuộc diện hộ cận nghèo của địa phương; bị cáo Q nghề nghiệp tự do là dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn của địa phương không có tài sản gì, phạm tội một phần do bị cáo C dủ, tiền mua ma túy là của bị cáo C. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên giảm nhẹ một phần hình phạt tù cho các bị cáo; giảm nhẹ hình phạt bổ sung cho bị cáo C. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Q để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về vật chứng:

- Cơ quan điều tra thu giữ 6,88 gam Heroine gửi giám định, cơ quan giám định đã lưu mẫu 0,37 gam còn lại 6,51g Heroine cùng toàn bộ niêm phong cũ cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô BKS 24V1 – 244.xx đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị L là vợ của bị cáo C. Quá trình điều tra xác định: Đây là tài sản riêng của chị L, chị L mua xe trả góp để lấy làm phương tiện đi lại làm ăn, mua xe trong thời gian bị cáo C chấp hành án. Ngày 18/9/2023 bị cáo C tự ý lấy xe của chị đi mua ma túy. Chị L đề nghị được trả lại xe để làm phương tiện làm ăn kiếm sống. Xét thấy đây là tài sản riêng của chị L, là phương tiện chị L sử dụng hàng ngày để đi làm ăn, bị cáo C tự ý sử dụng xe của chị vào việc phạm tội Chị không biết nên xem xét trả lại cho chị L.

Về án phí: Gia đình bị cáo Vương Văn C thuộc diện cận nghèo tại địa phương; bị cáo Vương Văn Q là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn. Các bị cáo đều có đề nghị xin được miễn án phí nên xem xét miễn án phí cho các bị cáo theo quy định của Pháp luật.

Đối với các tình tiết khác: Đối với người đàn ông bị cáo C khai đã bán ma tuý cho bị cáo vào ngày 18/9/2023, quá trình điều tra không xác định được lý lịch, địa chỉ nên không có căn cứ đề cập xử lý trong vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Vương Văn C, Vương Văn Q phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vương Văn C 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù và phạt 5.000.000đ (năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2023 ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.

- Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vương Văn Q 07 (bẩy) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2023 ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 6,51 gam Heroine cùng toàn bộ niêm phong cũ đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị L 01 (một) xe mô tô Honda biển kiểm soát 24V1 - 244.xx cùng giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị L. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Bàn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn ngày 27/11/2023.)

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự. Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Vương Văn C và Vương Văn Q

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a, 7b, 7c và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ