- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Phạm Thị A.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2023/HNGĐ-ST Ngày 13-4-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Hồ Điệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Huy Du
Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 14/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị A; nơi cư trú: Thôn Đốc Hành, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Vũ Văn B; ĐKHKTT: Thôn Đốc Hành, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Philippines; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là Chị Phạm Thị A trình bày:
Chị Phạm Thị A kết hôn với Anh Vũ Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng ngày 17/8/2016. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Gia đình hai bên đã khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện nay, Anh B đang ở Philippines để sinh sống và làm việc, địa chỉ cụ thể hiện nay ở Philippines của Anh B Chị A không nắm được. Từ năm 2019 đến nay, anh chị sống ly thân, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị A được biết Anh B vẫn thường xuyên liên lạc về với mẹ đẻ của Anh B. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Anh B để nhanh chóng ổn định cuộc sống.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Vũ Minh Tú, sinh ngày 09/7/2016. Ly hôn, chị yêu cầu giao con chung cho chị trực tiếp nuôi đưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị và Anh B tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là Anh Vũ Văn B:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà Phan Thị Đào – là mẹ đẻ của Anh Vũ Văn B. Tòa án đã thông báo hai lần cho bà Phan Thị Đào cung cấp địa chỉ cụ thể của Anh Vũ Văn B ở Philippines và yêu cầu bà Phan Thị Đào cho biết kết quả về việc bà Đào đã thông báo cho Anh Vũ Văn B để gửi lời khai đối với yêu cầu xin ly hôn của Chị Phạm Thị A cho Tòa án. Bà Phan Thị Đào trình bày Anh Vũ Văn B vẫn liên lạc qua điện thoại với bà và gia đình nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể Anh Vũ Văn B ở đâu do Anh B không cung cấp. Bà đã thông báo cho Anh Vũ Văn B về yêu cầu của Tòa án tuy nhiên Anh B không thực hiện việc cung cấp địa chỉ và gửi lời khai về cho Tòa án. Anh B trao đổi qua điện thoại với bà Đào như sau: Anh B có quan điểm đồng ý ly hôn với Chị A. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Vũ Minh Tú, sinh ngày 09/7/2016. Ly hôn, Anh B đồng ý giao con chung cho Chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Anh B và Chị A tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quan điểm của bà Phan Thị Đào như sau: Về quan hệ hôn nhân: Anh B và Chị A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào ngày 17/8/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và đã có với nhau 02 con chung. Quá trình chung sống anh chị nảy sinh mâu thuẫn do không cùng chung quan điểm sống, bất điểm quan điểm sống. Gia đình hai bên đã khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ năm 2019 đến nay, anh chị sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Bà đề nghị Tòa án giải quyết cho Chị A được ly hôn Anh B theo quy định của pháp luật. Về con chung và tài sản chung: Đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của Chị A và Anh B.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho Chị Phạm Thị A được ly hôn với Anh Vũ Văn B. Về con chung: Giao Vũ Minh Tú, sinh ngày 09/7/2016 cho Chị Phạm Thị A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung, Chị Phạm Thị A không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai của đương sự tại phiên tòa, xét thấy:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về việc ly hôn. Bị đơn là Anh Vũ Văn B có hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú cuối cùng ở thành phố Hải Phòng nhưng hiện đang sinh sống ở Philippines, nguyên đơn Chị Phạm Thị A hiện nay đang sinh sống tại thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Phạm Thị A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho Anh Vũ Văn B đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng Anh Vũ Văn B vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị A kết hôn với Anh Vũ Văn B kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào ngày 17/8/2016. Theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Dù hai bên gia đình đã khuyên bảo, hòa giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể hàn gắn. Vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay không còn liên lạc với nhau, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Xét thấy, Chị A đã không còn tình cảm vợ chồng với Anh B, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã ly thân trong một thời gian dài nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Phạm Thị A đối với Anh Vũ Văn B.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Vũ Minh Tú, sinh ngày 09/7/2016. Ly hôn, chị yêu cầu giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Qua lời trình bày của mẹ đẻ Anh B thì Anh B cũng đồng ý giao con chung cho Chị A trực tiếp nuôi dưỡng, anh và Chị A tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết, mẹ đẻ Anh B đề nghị Tòa án giao con chung theo nguyện vọng của Anh B và Chị A. Do đó, cần giao con chung cho Chị Phạm Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên cần ghi nhận việc anh chị tạm thời chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 26; khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Phạm Thị A.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị A được ly hôn Anh Vũ Văn B.
2. Về con chung: Giao con chung là Vũ Minh Tú, sinh ngày 09/7/2016 cho Chị Phạm Thị A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận việc Anh Vũ Văn B và Chị Phạm Thị A tạm thời chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000956 ngày 19 tháng 01 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị A đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Phạm Thị A (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh Vũ Văn B (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND TP Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Cục THADS TP Hải Phòng;
- UBND xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu: HCTP, HS.
Đặng Hồ Điệp THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Xuân Quyết - Nguyễn Thị Luyến
Đặng Hồ Điệp
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - UBND phường Cầu Đất, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HCTP, HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đỗ Xuân Quyết - Nguyễn Thị Luyến | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hồ Điệp THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hồ Điệp |