vanban.org

Bản án 77/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Trần Thị Tuyết Nh đối với bà Phạm Thị Tuyết Kim L.

Buộc bà Phạm Thị Tuyết Kim L có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị Tuyết Nh số tiền 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Thị Tuyết Nh- Phạm Thị Tuyết Kim L "vay""
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Trần Thị Tuyết Nh đối với bà Phạm Thị Tuyết Kim L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/DS-ST
Ngày: 29-5-2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Bé

2. Ông Đinh Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Quê, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Ngày 29 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 100/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyết Nh, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số 14, đường Ng, phường 10, thành phố M, tỉnh T.

Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh T (Theo văn bản uỷ quyền ngày 16/02/2023), có mặt.

- Bị đơn: Bà Phạm Thị Tuyết Kim L, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số 57/3, ấp B, xã Th, huyện C, tỉnh L, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/02/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Văn L là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Trần Thị Tuyết Nh có cho bà Phạm Thị Tuyết Kim L vay nhiều lần, cụ thể:

Lần 1: Ngày 20/10/2020, bà Nh cho bà L vay số tiền 15.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 20/01/2021, không có thỏa thuận lãi suất.

Lần 2: Ngày 28/01/2021, bà Nh cho bà L vay số tiền 55.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 28/4/2021, không có thỏa thuận lãi suất.

Lần 3: Ngày 26/3/2021, bà Nh tiếp tục cho bà L vay số tiền 60.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 26/6/2021, không có thỏa thuận lãi suất.

Tổng cộng, bà Nh đã cho bà L vay số tiền 130.000.000 đồng, mỗi lần vay đều có lập biên nhận nợ. Nay đã quá thời hạn trả tiền vốn vay theo thỏa thuận mà bà L chưa thanh toán cho bà Nh nên bà Nh yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L phải trả tổng số tiền vốn vay còn nợ là 130.000.000 đồng, trả một lần, không yêu cầu tính lãi suất.

Bà Phạm Thị Tuyết Kim L là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Tuyết Nh có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Phạm Thị Tuyết Kim L, việc tranh chấp được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà L cư trú tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà L.

. Về nội dung vụ án: Bà Trần Thị Tuyết Nh yêu cầu bà Phạm Thị Tuyết Kim L phải thanh toán tổng số tiền vốn vay còn nợ 130.000.000 đồng, trả một lần, không yêu cầu tính lãi suất.

Xét thấy, nguyên đơn cung cấp được 03 giấy mượn tiền viết tay giấy tập học sinh có nội dung: “...tôi tên Phạm Thị Tuyết Kim L…có mượn chị Trần Thị Tuyết Nh…số tiền…”

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, mặc dù Tòa án nhiều lần triệu tập bà L tham gia tố tụng để làm rõ nội dung vụ án nhưng bà L đều vắng mặt không đến Tòa án giải quyết vụ án và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này thể hiện việc bà L đã từ bỏ quyền chứng minh cho mình. Như vậy, căn cứ vào các giấy mượn tiền mà bà Nh cung cấp có đủ cơ sở xác định: Bà Nh có cho bà L vay ba lần với tổng số tiền 130.000.000 đồng, có thỏa thuận thời hạn trả của từng khoản vay và không có thỏa thuận lãi suất nên xác định đây là hợp đồng vay không có lãi và có kỳ hạn.

. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền vốn vay còn nợ là 130.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 357, 463, 466, 468 và 470 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nh buộc bà L phải thanh toán số tiền 130.000.000 đồng. Bà L còn phải chịu tiền lãi chậm thanh toán nợ gốc theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.

. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Nh được chấp nhận nên bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định (130.000.000 đồng x 5% = 6.500.000 đồng). Bà Nh không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 357, 463, 466, 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Trần Thị Tuyết Nh đối với bà Phạm Thị Tuyết Kim L.

Buộc bà Phạm Thị Tuyết Kim L có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị Tuyết Nh số tiền 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí: Bà Phạm Thị Tuyết Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 6.500.000 (sáu triệu, năm trăm nghìn) đồng.

Bà Trần Thị Tuyết Nh không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà Nh được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.250.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006679 ngày 09 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ