- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Ngô Võ Anh K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 02 năm 2022.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật phí và lệ phí Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2022/HS - ST Ngày: 26/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thanh Nga
2. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thụy Uyên Vy – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thủy Quỳnh Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2022/TLST – HS ngày 17 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2022/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Võ Anh K, sinh ngày 02 tháng 5 năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 1/12/27 đường D, Phường A, quận B, TP. Hồ Chí Minh; chỗ ở: 152/38A T, Phường A, quận B, TP. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Anh K2 sinh năm 1976 và bà Võ Thị Tuyết Hồng S, sinh năm 1978; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 07/02/2022, “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngô Võ Anh K là người sử dụng ma túy và thường mua ma túy của một người bạn tên “Chiến” (không rõ lai lịch) để sử dụng. Ngày 27/01/2022, K mua của Chiến 01 (một) gói ma túy với giá 500.000 (năm trăm nghìn) đồng rồi đem về nhà lấy một ít ra sử dụng. Số ma túy còn lại K bỏ vào 01(một) hộp kim loại có sẵn, cất giấu trong túi xách K mang theo bên mình để dành và sử dụng cho bản thân. Vào khoảng 23 giờ ngày 06/02/2022, Ngô Võ Anh K điều khiển xe máy biển số 59S3 – XXXXX đến khu vực đường H, quận G gặp đối tượng “Chiến” nhận 01 (một) gói nylon bên trong có nhiều tờ giấy màu trắng (dùng để quấn thuốc hút) và 01 (một) gói cần sa. K bỏ gói cần sa vào túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc, rồi điều khiển xe máy biển số 59S3 – XXXXX đi đến Quận 4 để bán cho người khác và hưởng 50.000 (năm mươi nghìn) đồng tiền công bán ma túy. Khi đến trước số 39B X, Phường Y, Quận Z, K gọi vào số điện thoại đi động 0907097799 của “Chiến” đưa cho K, để kêu người xuống lấy ma túy và được người này yêu cầu đứng chờ. K ngồi chờ đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 07/02/2022, thì bị tổ tuần tra Công an Quận 4 tuần tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi áo khoác đen phía bên phải của K đang mặc có 01(một) gói nylon chứa nhiều tờ giấy màu trắng và 01(một) gói nylon chứa lá cây khô và 01 (một) hộp bằng kim loại đựng 01 (một) gói nylon chứa lá cây khô, nghi vấn là ma túy, nên tổ tuần tra Công an Quận 4 tiến hành thu giữ vật chứng, đưa K về trụ sở Công an Phường 13, Quận 4 lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định số: 995/KLGĐ – MT ngày 15/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Hồ Chí Minh kết luận: Hai gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Ngô Võ Anh K, điều tra viên Lê Công Vượng và hình dấu Công an Phường 13, Quận 4, bên trong có: Gói 1: Lá cây khô và một số tờ giấy màu trắng không chứa gì trong 01(một) gói nylon, có khối lượng 1,6860g (một phẩy sáu tám sáu không) gam, là Cần sa; Gói 2: 01(một) gói ny lon chứa lá cây khô trong hộp bằng kim loại, có khối lượng 2,1832g (hai phẩy một tám ba hai) gam, là Cần sa.
Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Ngô Võ Anh K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Quá trình điều tra, K khai nhận vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/02/2022 đã chở “Chiến” đến số 39 – 39B X, Phường Y, Quận Z để “Chiến” giao ma túy cho khách. Ngoài ra, K khai đã nhiều lần đi giao ma túy cho đối tượng tên “Chiến” và hưởng lợi tiền công mỗi lần giao ma túy từ 50.000 (năm mươi nghìn) đồng đến 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Tuy nhiên, tại thời điểm K bị phát hiện bắt quả tang thì không có đối tượng nào tên “Chiến” như K khai nhận. Hiện Cơ quan điều tra Công an Quận 4 cũng không xác định được K đã giao ma túy cho người khác, nên không có cơ sở xử lý. Đối với người nam thanh niên tên “Chiến” có số điện thoại di động 0974214958 giao ma túy cho K đi bán, do không xác minh được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở xử lý. Đối với các sim điện thoại số 0974214958, 0907097799, 0938300032 Cơ quan điều tra Công an Quận 4 đã tiến hành xác minh các số điện thoại nêu trên nhưng đến nay chưa có kết quả, khi nào có kết quả thì sẽ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 49/CT – VKS Q.4 ngày 12/5/2022 Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đã truy tố bị cáo Ngô Võ Anh K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Ngô Võ Anh K có lời khai thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Kết luận điều tra và Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ngô Võ Anh K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Ngô Võ Anh K từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù; Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 phạt tiền bị cáo số tiền là 10.000.000 (mười triệu) đồng. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan điều tra Công an Quận 4, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như kết luận giám định có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 07/02/2022, tại trước số 39 – 39B X, Phường Y, Quận Z, Tổ tuần tra Công an Quận 4 phát hiện, bắt quả tang Ngô Võ Anh K có hành vi cất giữ trong túi áo khoát đen phía bên phải của K đang mặc 01 gói nylon chứa lá cây khô, có khối lượng 1,6860g (một phẩy sáu tám sáu không) gam, là Cần sa và 01(một) gói ny lon chứa lá cây khô trong hộp bằng kim loại, có khối lượng 2,1832g (hai phẩy một tám ba hai) gam, là Cần sa, nhằm mục đích để bán. Hành vi của bị cáo Ngô Võ Anh K đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, bị cáo biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì tư lợi cá nhân muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện. Xét, về nhân thân bị cáo Ngô Võ Anh K không có tiền án, tiền sự nhưng với hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt nghiêm bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử còn áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phạt tiền đối với bị cáo Ngô Võ Anh K, số tiền phạt là 10.000.000 (mười triệu) đồng, để thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử lý vật chứng:
- 02 (hai) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Ngô Võ Anh K, điều tra viên Lê Công Vượng và hình dấu Công an Phường 13, Quận 4, bên trong là ma túy còn lại sau giám định. Xét, ma túy là chất độc hại không sử dụng được và cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
- 01 (một) căn cước công dân số 079201XXXXX, mang tên Ngô Võ Anh K, sinh năm 2001. Xét, đây là tài sản cá nhân nên giao trả lại cho Ngô Võ Anh K.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Polo F2FRO, số Imei 1: 8640640831XXX, số Imei2: 8640640831XXX, đã qua sử dụng. Xét, đây là điện thoại bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- 01 (một) xe máy Honda Wave RSX màu đen, biển số 59S3 – XXXXX, đã qua sử dụng. Qua xác minh chiếc xe trên do Ngô Võ Anh K đứng tên chủ sở hữu, bị cáo dùng chiếc xe trên đi bán ma túy vào ngày 06/02/2022. Xét, đây là phương tiện dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 (năm mươi nghìn) đồng, là số tiền K được hưởng lời từ việc đi giao ma túy. Xét, đây là khoản thu lợi bất chính do phạm tội mà có nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo K phải nộp số tiền là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Ngô Võ Anh K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 02 năm 2022.
Tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm thi hành án, thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
+ Phạt tiền bị cáo Ngô Võ Anh K số tiền là 10.000.000 (mười triệu) đồng để thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
+ Tịch thu, tiêu hủy: 02 (hai) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Ngô Võ Anh K, điều tra viên Lê Công Vượng và hình dấu Công an Phường 13, Quận 4, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Polo F2FRO, số Imei 1: 8640640831XXX, số Imei2: 8640640831XXX; 01 (một) xe máy Honda Wave RSX màu đen, biển số 59S3 – XXXXX, đã qua sử dụng và số tiền 50.000 (năm mươi nghìn) đồng.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 96 ngày 24/5/2022 giữa Công an Quận 4 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4; Giấy nộp tiền vào Kho bạc nhà nước Quận 4 lập ngày 04/4/2022).
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án:
+ Bị cáo Ngô Võ Anh K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; (1) - CA TP.HCM; (1) - TAND TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (2) - VKSND Quận 4; (2) - Công An Quận 4; (1) - Trại tạm giam PC-81B (1) - Chi cục THADS Quận 4; (1) - Chi cục THAHS Quận 4; (3) - Lưu VT, hồ sơ. (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương Thúy |