vanban.org

Bản án 77/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Đức L, Hồ Văn K, Hồ Kim N và Võ Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: 1. Hình phạt chính:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Đức L, Hồ Văn K, Hồ Kim N và Võ Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2022/HS-ST
Ngày 29/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nhân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Hường và ông Bùi Bá Sơn.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện VKSND huyện H tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hg - Kiểm sát viên.

Vào hồi 14 giờ 10 phút, ngày 29/12/2022, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2022/TLST-HS, ngày 10/10/2022 theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐXXST- HS, ngày 10/11/2022 và Q định hoãn phiên toà số 33/2022/QĐST, ngày 22/11/2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Đức L; sinh ngày 01/7/1994 tại xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: Thôn Hồng D, xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề ngH: Lao động tự do; Con ông Trần Văn H; (Bệnh binh, đã chết); Con bà Nguyễn Thị Q - Sinh năm 1960; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Nguyễn Thị NY - Sinh năm 1998; Có 01 người con, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/7/2022 đến ngày 22/7/2022 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang trú tại xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)

2. Họ và tên: Võ Văn H; Sinh ngày 06/03/1984 tại xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: Thôn Hồng D, xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề ngH: Lao động tự do; Con ông Võ Quang V - Sinh năm 1954,(bệnh binh); Con bà Nguyễn Thị V - Sinh năm 1955; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ 03; Vợ: Phan Thị H - Sinh năm 1986; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/3/2016, bị Công an thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh ra Q định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc, cùng ngày đã nộp đủ tiền phạt. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/7/2022,

1

đến ngày 22/7/2022 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang trú tại xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)

3. Họ và tên: Hồ Văn K; Sinh ngày 25/11/1990 tại xã Thạch L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: Thôn Hoà L, xã Thạch L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề ngH: Lao động tự do; Con ông Hồ Văn Đ - Sinh năm 1954; Con bà Nguyễn Thị T - Sinh năm 1959; Anh chị em ruột có 3 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Trần Thị N - Sinh năm 1990; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/7/2022, đến ngày 22/7/2022 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang trú tại xã Thạch L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)

4. Họ và tên: Hồ Kim N; Sinh ngày 01/10/1994 tại xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: Thôn Hồng D, xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề ngH: Lao động tự do; Con ông Hồ Văn T - Đã chết; Con bà Nguyễn Thị T - Sinh năm 1971; Bị cáo là con một trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/7/2022, đến ngày 22/7/2022 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang trú tại xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)

* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Hà Văn H, sinh năm: 1986; Địa chỉ cư trú: Thôn Hồng K, xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề ngH: Lao động tự do. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Hà Văn H, sinh năm 1986, trú tại xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và Võ Văn H chung vốn nuôi tôm cùng nhau tại thôn Đại T, xã Thạch T và thuê Trần Đức L, Hồ Kim N, Hồ Văn K làm công nhân chăm nuôi, bảo vệ hồ tôm. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/7/2022, sau khi ăn cơm xong, anh H đi về nhà nghỉ, lúc này Trần Đức L rủ Võ Văn H, Hồ Kim N và Hồ Văn K đánh bài “T lên miền Nam” ăn tiền thì được những người này đồng ý và thống nhất mỗi ván đánh thấp nhất là 10.000 đồng, cao nhất là 50.000 đồng. Sau đó, 04 người ngồi trên chiếc chiếu nhựa màu đỏ, được trải để ngồi ăn cơm trước đó và sử dụng 01 bộ bài túlơkhơ 52 quân có sẵn tại khu vực nhà chòi của hồ nuôi tôm để thực hiện hành vi đánh bạc.

* Cách T đánh bài “T lên miền Nam” và tính thắng thua như sau: Các đối tượng đánh bạc sử dụng bộ bài túlơkhơ 52 quân chia đều cho bốn người, mỗi người 13 quân bài. Trong đó, quy ước quân bài yếu nhất là 3 và theo thứ tự mạnh dần là 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A; quân bài mạnh nhất là quân bài 2. Trong 4 quân bài có cùng số (cùng giá trị) thì quân bài có chất “Bích” được quy ước là yếu nhất, tiếp đến theo thứ tứ mạnh dần là chất “Chuồn”, chất “Rô”, chất

2

“Cơ”, quân bài mạnh nhất trong bộ bài là 2 “Cơ”. Những nhóm có ít nhất 3 quân bài liên tiếp nhau trở lên thì gọi là “Sảnh”; nếu 2 “Sảnh” có cùng số lượng quân bài và số của quân bài lớn nhất bằng nhau thì “Sảnh” nào có quân bài lớn nhất mạnh hơn thì “Sảnh” đó mạnh hơn. Khi có từ 3 cặp đôi quân bài liên tiếp nhau trở lên thì gọi là “Đôi thông”; có 4 quân bài có cùng số gọi là “Tứ quý”. 3 “Đôi thông” thì chặt được một quân bài 2 và chặt được 3 “Đôi thông” có giá trị nhỏ hơn; “Tứ quý” chặt được một quân bài 2, chặt được 3 “Đôi thông” và chặt được “Tứ quý” có giá trị nhỏ hơn; 4 “Đôi thông” thì chặt được một quân bài 2, một đôi 2, 3 “Đôi thông” và “Tứ quý”. Nếu một người có 5 “Đôi thông”, 6 đôi thường (có 6 cặp quân bài cùng giá trị, không cần phải liên tục nhau), “Tứ quý” 2, “Tứ quý” 3, “Sảnh” từ 3 đến A hoặc có từ 12 quân bài cùng màu (đỏ hoặc đen) trở lên thì được thắng ván bài đó, gọi là “thắng trắng”.

Thứ tự vòng chơi bài là đánh ngược theo chiều kim đồng hồ. Ván bài đầu tiên, người nào có quân bài 3 “Chuồn” là người được đánh trước, còn từ ván thứ 2 trở đi, ai thắng ván trước đó sẽ là người được đánh trước. Khi người chơi đánh ra một quân bài hay một nhóm nhiều quân bài, người tiếp theo phải đánh “bắt” bằng một quân bài hay một nhóm nhiều quân bài lớn hơn quân bài hay nhóm nhiều quân bài của người trước đánh. Nếu không “bắt” được thì bỏ qua vòng đánh và người đó sẽ không được đánh cho đến khi kết thúc vòng đó. Nếu người chơi đánh xong mà không ai bắt được thì một vòng chơi kết thúc và người này có quyền đánh tiếp theo.

Kết thúc một ván bài, mỗi người thua phải trả cho người thắng 40.000 đồng. Nếu có người chưa đánh được lá bài nào thì gọi là “lũng” và phải trả cho người thắng 40.000 đồng. Nếu có người chưa đánh được quân bài 2 thì gọi là “thối”, “thối” quân 2 đen phải trả cho người thắng 10.000 đồng, “thối” quân 2 đỏ phải trả cho người thắng 10.000 đồng. Nếu người nào “thắng trắng” thì mỗi người thua phải trả cho người thắng 30.000 đồng. Nếu một người đánh hết 13 lá bài của mình mà quân bài lẻ đánh cuối cùng là quân 3 “Bích” thì người đó thắng (gọi là đút 3 bích) và mỗi người thua phải trả 50.000 đồng. Trong quá trình đánh bạc, do thua hết số tiền mang theo nên Hồ Văn K vay của Trần Đức L 3.000.000 đồng để đánh bạc tiếp.

Đến 14 giờ 00 cùng ngày, trong lúc Trần Đức L, Võ Văn H, Hồ Kim N và Hồ Văn K đang sát phạt nhau thì bị tổ công tác của Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang; lực lượng Công an thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.800.000 đồng, 01 bộ bài túlơkhơ 52 quân và 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ. Quá trình bắt giữ, Trần Đức L tự nguyện lấy trong người ra 5.520.000 đồng giao nộp, Hồ Kim N tự nguyện lấy trong người ra 1.200.000 đồng giao nộp; cả L và N đều thừa nhận đây là tiền mang theo sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tại CQCSĐT Công an huyện H, các đối tượng đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Kết quả điều tra chứng minh được số tiền từng đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc gồm: Trần Đức L 9.320.000 đồng, Hồ Văn K 4.000.000 đồng (gồm 1.000.000 đồng mang theo và 3.000.000 đồng vay của L), Hồ Kim N 1.800.000 đồng, Võ Văn H 1.400.000 đồng, tổng bằng 16.520.000 đồng.

3

* Vật chứng của vụ án gồm: 13.520.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 bộ bài túlơkhơ 52 quân, đã qua sử dụng và 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng. Số vật chứng này đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện H quản lý theo quy định.

Tại cáo trạng số 73/CT-VKS-TH, ngày 07/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố các bị cáo Trần Đức L, Võ Văn H, Hồ Văn K, Hồ Kim N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Trần Đức L từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Võ Văn H từ 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Hồ Văn K từ 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Hồ Kim N từ 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Trần Đức L, Võ Văn H, Hồ Kim N cho Ủy ban nhân dân xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Hồ Kim K cho Ủy ban nhân dân xã Thạch L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3, Điều 321, Điều 35 BLHS phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Đức L, Võ Văn H, Hồ Văn K, Hồ Kim N mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền: 13.520.000 đồng; Truy thu từ bị cáo Hồ Văn K số tiền 3.000.000 đồng (số tiền Hồ Văn K vay của Trần Đức L sử dụng vào việc đánh bạc) để nộp ngân sách Nhà nước; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài túlơkhơ 52 quân và 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng là các công cụ dùng vào việc phạm tội.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị Q 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án buộc các bị cáo

4

Trần Đức L, Võ Văn H, Hồ Văn K, Hồ Kim N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Các bị cáo không có gì tranh luận chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

* Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều cho rằng đã nhận T được hành vi phạm tội của mình và rất ăn năn, hối hận; đề nghị HĐXX xem xét nguyên nhân, điều kiện, H cảnh, tính chất hành vi phạm tội để từ đó giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng; các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Vì vậy khẳng định các Q định của các cơ quan tố tụng và hành vi của những người T hành tố tụng là H pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù H với nhau, phù H với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 14 giờ, ngày 20/7/2022, tại nhà chòi hồ nuôi tôm của anh Hà Văn H thuộc thôn Đại T, xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, trong lúc các đối tượng Trần Đức L, Hồ Văn K, Hồ Kim N và Võ Văn H đang đánh bạc bằng hình T đánh bài “T lên miền Nam” sát phạt nhau bằng tiền thì bị Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang; thu giữ tại chiếu bạc 6.800.000 đồng. Quá trình điều tra đã xác định được tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 16.520.000 đồng. Tất cả các bị cáo đều có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Do đó, cáo trạng của Viện KSND huyện H truy tố các bị cáo về tội danh trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không;

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “phạm tội lần đầu thuộc trường H ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo Trần Đức L có bố đẻ Trần Văn H là bệnh binh mất sức lao động 65%; Võ Văn H có bố đẻ Võ Quang V là bệnh binh mất sức lao động 61%, được Nhà nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhì; Hồ Kim N có H cảnh khó khăn, mồ côi cha, mẹ đi lấy chồng khác, được cô ruột là Hồ Thị Trí nuôi dưỡng từ nhỏ nên các bị cáo Trần Đức L, Võ Văn H, Hồ Kim N được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

5

Tính chất mức độ hành vi phạm tội và căn cứ Q định hình phạt: Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; vị trí, vai trò, nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy rằng: Đây là một vụ án có tính chất đồng phạm đơn giản, trong đó Trần Đức L giữ vai trò K xướng, Hồ Kim N, Hồ Văn K và Võ Văn H giữ vai trò thực hành. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm tật tự quản lý công cộng và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần được xét xử nghiêm minh để răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, quá trình Q định hình phạt cũng cần xem xét cho các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường H ít nghiêm trọng; tính chất phạm tội mang tính giản đơn, không có sự phân công chuẩn bị từ trước; các bị cáo đều là bạn bè thân thiết, cùng làm việc với nhau, trong giờ nghỉ trưa mới bột phát rủ nhau đánh bạc; sau khi phạm tội các bị cáo đều nhận T được lỗi lầm, luôn thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo Trần Đức L, Võ Văn H đều có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến; các bị cáo Trần Đức L, Hồ Văn K, Hồ Kim N trước khi phạm tội đều có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật lần nào; đối với bị cáo H mặc dù đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng thời gian bị xử phạt hành chính cũng đã lâu, trong vụ án này bị cáo có số tiền đánh bạc ít nhất; điều kiện H cảnh hiện tại rất khó khăn, là trụ cột trong gia đình đang phải nuôi bố mẹ già và 3 con còn nhỏ, vợ đang mang bầu con thứ tư, sức khỏe yếu, không lao động được. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. HĐXX xét thấy các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo, cải tạo giáo dục tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù H và tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lợi bất chính nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng khoản 3, Điều 321, Điều 35 BLHS phạt bổ sung hình phạt tiền là phù H.

Về xử lý vật chứng: Xét các vật chứng gồm: số tiền 13.520.000 đồng và 01 bộ bài túlơkhơ 52 quân, 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H là công cụ dùng vào việc phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền thu giữ và tiêu hủy đối với các vật không còn giá trị sử dụng. Đối với số tiền 3.000.000 đồng (Hồ Văn K vay của Trần Đức L để sử dụng vào việc đánh bạc). Quá trình điều tra đến nay K chưa nộp lại số tiền này nên cần xem xét truy thu từ Hồ Văn K 3.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Các vấn đề khác: Trong vụ án này có anh Hà Văn H là chủ nhà chòi hồ nuôi tôm nơi các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc. Tuy nhiên, khi các bị cáo đánh bạc thì anh H không có mặt ở đó và không biết nên CQCSĐT Công an

6

huyện H, tỉnh Hà Tĩnh không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Hà Văn H là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

Q ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Đức L, Hồ Văn K, Hồ Kim N và Võ Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

2.1. Hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Trần Đức L 10(mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20(Hai mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. (29/12/2022)

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Võ Văn H 08(tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16(mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. (29/12/2022)

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Hồ Văn K 07(bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14(mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. (29/12/2022)

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Hồ Kim N 07(bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14(mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. (29/12/2022)

Giao các bị cáo Trần Đức L, Võ Văn H, Hồ Kim N cho Ủy ban nhân dân xã Thạch T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Hồ Văn K cho Ủy ban nhân dân xã Thạch L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối H với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường H người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự từ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể Q định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường H người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo và tổng H hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

7

2.2. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3, Điều 321, Điều 35 BLHS phạt bổ sung hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Đức L số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); xử phạt các bị cáo Võ Văn H, Hồ Văn K, Hồ Kim N mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng.(Mười triệu đồng)

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền: 13.520.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài túlơkhơ 52 quân và 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng. Truy thu để nộp ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng từ bị cáo Hồ Văn K.

(Tình trạng đặc điểm các vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 18/10/2022 và ủy nhiệm chi lập ngày 17/10/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh).

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Đức L, Hồ Văn K, Hồ Kim N và Võ Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Nơi nhân:

Cỡ chữ