vanban.org

Bản án 77/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Phạm Xuân Tr 21 (hai mươi mốt) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14 tháng 7 năm 2022).

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư đã được niêm phong đúng quy định, bên trong có 01 chiếc khẩu trang màu trắng, túi nilon màu trắng và phong bì thư niêm phong ban đầu. Trên bì thư có ghi “vật ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Xuân Tr - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phạm Xuân Tr 21 (hai mươi mốt) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14 tháng 7 năm 2022).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2022/HS-ST
Ngày 28 - 10 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM Đ, TỈNH NA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hương

Ông Phan Đình Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đ, tỉnh NA.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đ, tỉnh NA tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đ, tỉnh NA xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2022/TLST - HS ngày 06 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2022/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Phạm Xuân Tr; tên gọi khác: Không, sinh năm 1978 tại huyện Đức Th, tỉnh Hà T; nơi cư trú: tổ dân phố 5, thị trấn Đức Th, huyện Đức Th, tỉnh Hà T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1946; vợ: Trần Thị L và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/5/2013 bị công an huyện Đức Th xử phạt hành chính số tiền 1.000.000đồng về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2022 đến nay; có mặt.

Người làm chứng

1. Ông Hồ Đình Ph, sinh năm 1958

Địa chỉ: Xóm 4, xã Khánh S, huyện Nam Đ, tỉnh NA; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 13/7/2022, Phạm Xuân Tr đi bộ từ nhà đến khu vực ngã tư đèn đỏ tại Tr tâm thị trấn Đức Th, huyện Đức Th, tỉnh Hà T thì gặp một người đàn ông lái xe ôm Tr (không biết tên tuổi, địa chỉ) và hỏi mua của người này 300.000đồng ma túy đá thì người đàn ông đồng ý. Người đàn ông này nhận tiền của Tr rồi đi khỏi đó sau khoảng 20 phút sau thì quay lại và ném một chiếc khẩu trang y tế được vo tròn tại ở chân cột đèn giao thông rồi ra hiệu cho Tr đến lấy. Tr theo chỉ dẫn của người đàn ông đi đến cột đèn giao thông và tìm thấy bên trong chiếc khẩu trang có 01 gói ni nông không màu bên trong đựng ma túy đá. Tr cầm gói ma túy trên tay rồi bắt xe ôm đi sang hướng huyện Nam Đàn tìm nơi vắng vẻ để sử dụng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi Tr đi đến ngã tư đèn đỏ tại ngã tư gần cây xăng ở xã Khánh S, huyện Nam Đ thì xuống xe và đi bộ theo hướng về xã Nam Kim, huyện Nam Đàn. Khi Tr đi đến xóm 4, xã Nam K, huyện Nam Đ thì phát hiện thấy lực lượng Công an, Tr liền ném chiếc khẩu trang gói ma túy xuống đường thì bị tổ công tác Công an xã Khánh S phát hiện bắt giữ.

Tại bản kết luận giám định số 1021/KL - KTHS (Đ2 - MT) ngày 18/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất rắn tinh thể màu trắng (ký hiệu A1) thu giữ của Phạm Xuân Tr gửi tới giám định là ma túy Methamphetamine; số chất rắn thu giữ của Phạm Xuân Tr có tổng khối lượng là 0,55g (không phẩy năm mươi lăm gam).

Bản Cáo trạng số: 74/CT-VKSNĐ ngày 04/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đ, tỉnh NA truy tố Phạm Xuân Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 14/7/2022.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Các vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa cáo Phạm Xuân Tr không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo thể hiện sự ăn năn, hối cải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và khung hình phạt: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 30 phút đến 13 giờ, ngày 13/7/2022, Phạm Xuân Tr đã có hành cất dấu bất hợp pháp trong chiếc khẩu trang màu trắng 01 gói nilon bên trong gói nilon có chứa 0,55 gam ma túy methamphetamine mục đích để sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đầy đủ năng lực hành vi nhận thức rõ tác hại của ma túy tuy nhiên để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu ngày 09/5/2013 bị Công an huyện Đức Th xử phạt hành chính số tiền 1.000.000đồng về hành vi “Đánh bạc” nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành người công dân tối mà tiếp tục phạm điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Tuy nhiên, cũng thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bố bị cáo là ông Phạm Xuân Đạt được tặng thương huân chương kháng chiến chống pháp hạng nhì, mẹ là Nguyễn Thị Minh T thương binh 4/4, được tặng thương huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba, có bác ruột Phạm Xuân Ng là liệt sỹ và có ông nội Phạm Ph được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống pháp hạng nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xét xử nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và làm bài học chung trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung như quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: 01 bì thư đã được niêm phong đúng quy định, bên trong có 01 chiếc khẩu trang màu trắng, túi nilon màu trắng và phong bì thư niêm phong ban đầu. Trên bì thư có ghi “vật chứng còn lại của Phạm Xuân Tr”; 01 chiếc cóong thủy tinh bị vỡ gắn với một chiếc nắp nhựa, 01 ống hút nhựa; 02 chiếc bật lửa màu đỏ là những vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 0,55 gam ma túy thu giữa của Phạm Xuân Tr đã giám định hết nên không xử lý.

Đối với người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ đã bán ma túy cho Phạm Xuân Tr. Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã xác minh nhưng chưa có kết quả, tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Xuân Tr 21 (hai mươi mốt) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14 tháng 7 năm 2022).

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư đã được niêm phong đúng quy định, bên trong có 01 chiếc khẩu trang màu trắng, túi nilon màu trắng và phong bì thư niêm phong ban đầu. Trên bì thư có ghi “vật chứng còn lại của Phạm Xuân Tr”; 01 chiếc cóong thủy tinh bị vỡ gắn với một chiếc nắp nhựa, 01 ống hút nhựa; 02 chiếc bật lửa màu đỏ (Đặc điểm, tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Nam Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nam Đ, tỉnh NA).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Xuân Tr phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đình Sơn

Lê Thị Hƣơng

Đặng Thị Phƣơng

Cỡ chữ